Kiến Thức Cộng Đồng Người Việt Khắp Nơi

Nga sẵn sàng cho thử nghiệm thiết bị "lặng- không người lái " chạy bằng năng lượng hạt nhân mới

 Zcomity  (12/02/2018): Thiết bị không người lái chạy bằng năng lượng hạt nhân (UUV) do Nga sản xuất, còn được gọi là Poseidon, đã sẵn sàng để bắt đầu chạy thử nghiệm trên biển, một nguồn tin trong ngành đã xác nhận với hãng tin TASS.

Các thử nghiệm thành công của đơn vị năng lượng hạt nhân Poseidon đã mở đường cho việc tiến hành các thử nghiệm"nhà máy điện hạt nhân siêu nhỏ này trên biển" và sẽ bắt đầu trong điều kiện thời tiết thuận lợi vào mùa hè này, một nguồn tin nói với TASS.

Vào cuối tháng 12 năm ngoái, một nguồn tin trong ngành công nghiệp quốc phòng cũng cho biết việc thử nghiệm  Poseidon, hiện đang được tiến hành trên biển. Nguồn tin lưu ý rằng lò phản ứng đã được gắn trên thân của một thiết bị vận hành.
Công nghệ Lò phản ứng hạt nhân siêu nhỏ trước đây chỉ có Hoa Kỳ chế tạo được và nó dược lắp vào Robot thám hiểm sao hỏa Curiosity để vận hành nhiềm năm mà không cần nạp nhiên liệu. tuy nhiên công nghệ kiểu này cần sự an toàn mức độ cao, vì tai nạn Hạt nhân sẽ là rất khủng khiếp.

Theo ông TASS, trong các thử nghiệm trên biển, các thông số kỹ thuật được tuyên bố trước đây về phạm vi sử dụng không giới hạn và tốc độ hơn 200 km / giờ đã được xác nhận.

Để tham khảo, hãng tin này đã sớm trích dẫn một nguồn tin trong ngành công nghiệp quốc phòng Nga nói rằng hai tàu ngầm mang theo Poseidon dự kiến ​​sẽ đi vào hoạt động với Hạm đội phương Bắc và hai chiếc còn lại sẽ gia nhập Hạm đội Thái Bình Dương. Mỗi chiếc tàu ngầm sẽ mang tối đa tám thiết bị này và do đó, tổng số Poseidons khi làm nhiệm vụ chiến đấu có thể lên tới 32 chiếc.

Ngoài ra, có báo cáo cho biết tốc độ tối đa của thiết bị không người lái Poseidon sẽ là hơn 107 kt (200 km / h), độ sâu tối đa mà nó có thể di chuyển là hơn một km. Để so sánh, tốc độ tối đa của tàu ngầm hạt nhân hiện đại là 32 kt, ngư lôi - 48 kt.


Nguyễn Hoàng Thế Anh
Xem chi tiết…

Boeing Thắng hợp đồng trị giá 805 triệu Mỹ Kim để chế tạo các máy bay tiếp nhiên liệu robot MQ-25A cho Hải quân Hoa Kỳ

 Zcomity  (31/08/2018): Sau cuộc thi tương thích kéo dài suốt cả tháng với hãng đối thủ Lockheed Martin, Boeing đã giành được một hợp đồng trị giá 805,3 triệu Mỹ Kim từ Ngũ giác Đài để chế tạo bốn máy bay tiếp nhiên liệu không người lái MQ-25A đầu tiên cho Hải quân Hoa  Kỳ.

MQ-25 Stingray có nghĩa là để tiếp nhiên liệu trên không cho các máy bay chiến đấu Hải quân như: Boeing F / A-18 Super HornetLockheed Martin F-35C Lightning II để mở rộng phạm vi hoạt động của chúng. Nó sẽ được giao nhiệm vụ cung cấp khoảng 15.000 pound nhiên liệu, và hoạt động cách Hàng Không Mẫu Hạm 500 hải lý. Điều đó sẽ tăng phạm vi chiến đấu thêm 300 đến 400 dặm.
Ảnh: Máy tiếp nhiên liệu không người lái không người lái MQ-25 của Hãng Boeing, được gọi là T1, hiện đang được thử nghiệm tại một địa điểm ở St. Louis thuộc Boeing. T1 đã hoàn thành động cơ và trình diễn xử lý boong tàu được thiết kế để chứng minh sự nhanh nhẹn và khả năng của máy bay khi di chuyển xung quanh trong giới hạn chặt chẽ trên một boong Hàng Không Mẫu Hạm. (Ảnh Boeing / Eric Shindelbower)

Máy bay không người lái sẽ phóng và hạ cánh trên các tàu sân bay, vì vậy chúng sẽ phải tích hợp với các hệ thống phóng và phục hồi của Hải quân.

Boeing đã cạnh tranh hợp đồng với hai đội được dẫn đầu bởi Lockheed Martin và General Atomics. Northrop Grumman đã được mời để gửi một giá thầu, nhưng đã bị loại khỏi cuộc thi vào tháng 10 năm ngoái.

Hợp đồng bao gồm "thiết kế, phát triển, chế tạo, kiểm tra, xác minh, chứng nhận, giao hàng và hỗ trợ" của bốn chiếc MQ-25A, Bộ Quốc phòng cho biết ngày hôm nay trong thông báo giải thưởng của mình. Gần một nửa công việc sẽ được thực hiện tại nhà máy Phantom Works của Boeing ở St. Louis, với phần còn lại được thực hiện tại nhiều cơ sở trong và ngoài nước Mỹ.

Bốn chiếc MQ-25A giống cá đuối đầu tiên sẽ được bàn giao vào tháng 8 năm 2024. Trong những năm tới, Hải quân dự kiến sẽ mua được 72 chiếc máy bay với tổng giá ước tính khoảng 13 tỷ Mỹ Kim.

"Đây là một ngày lịch sử," Adm. John Richardson, chỉ huy các chiến dịch Hải quân, cho biết trong một thông cáo của Hải quân .. "Chúng tôi sẽ ghi nhớ nhữ ngày này và nhận ra rằng sự kiện này đại diện cho một sự thay đổi đáng kể trong cách thức mà chúng tôi xác định yêu cầu  trong chiến đấu, làm việc với ngành công nghiệp, tích hợp máy bay không người lái và có người lái, và cải thiện tính sát thương của các máy bay - tất cả ở tốc độ phù hợp. Tất cả những người đã giúp đạt được cột mốc quan trọng này nên tự hào rằng chúng ta đang ở đây. Nhưng chúng ta còn nhiều việc phải làm. Đó không phải là thời gian để chúng ta cất cánh. Hãy tiếp tục nạp nhiên liệu. ”

Leanne Caret, chủ tịch và giám đốc điều hành của Boeing Defense, Space and Security, cũng trình bày tương tự trong việc phát hành tin tức của Boeing.

“Là một công ty, chúng tôi đã đầu tư vào cả trong đội ngũ của chúng tôi và trong một hệ thống máy bay tiếp nhiên liệu không người lái đáp ứng các yêu cầu của Hải quân Hoa Kỳ,” Caret nói. "Thực tế là chúng tôi đang chuẩn bị cho chuyến bay đầu tiên là nhờ vào một đội ngũ xuất sắc hiểu được Hải quân và nhu cầu của họ để có tài sản quan trọng này trên sàn của Hàng Không Mẫu hạm trên toàn thế giới."
Xem video:


Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Liên kết Vướng Víu Lượng Tử đầu tiên được tạo ra bởi các nhà khoa học Delft


Các nhà nghiên cứu tại #QuTech ở Delft đã thành công trong việc tạo ra sự vướng víu lượng tử giữa hai con chip lượng tử nhanh hơn sự vướng víu bị mất. Entanglement - Từng được biết đến bởi nhà khoa học Vật lý lý thuyết lẫy lừng #Einstein, ông gọi nó là "hành động ma quái" - hình thành liên kết sẽ cung cấp một #QuantumInternet tương lai bảo tồn năng lượng cơ bản của nó.

Thông qua một giao thức vướng víu thông minh mới và bảo vệ cẩn thận sự vướng víu ,

(Năm 2016 Trung quốc từng tuyên bố thành công khi áp thuyết này được cho là đã chế tạo ra một hệ thống Radar phát hiện máy bay tàng hình thế hệ 5 F22 và F-35 của Hoa Kỳ, Tuy nhiên tuyên bố công nghệ này của Phía Trung Quốc chưa được chứng thực. Link: https://www.zcomity.com/2016/09/trung-quoc-vua-tuyen-bo-phat-minh-radar.html)

các nhà khoa học do Giáo sư Ronald Hanson dẫn đầu là những người đầu tiên trên thế giới cung cấp một liên kết lượng tử 'theo yêu cầu'. Điều này mở ra cánh cửa để kết nối nhiều giao điểm lượng tử và tạo ra mạng lưới lượng tử đầu tiên trên thế giới. Họ xuất bản kết quả của họ trên vào ngày 14 tháng Sáu trên tạp chí Nature. 
Các nhà nghiên cứu từ QuTech ở Delft đang thực hiện thí nghiệm vướng víu lượng tử " theo yêu cầu'. Ảnh:  Giao1 sư. Ronald Hanson, tiến sĩ. Peter Humphreys và tiến sĩ. Norbert Kalb, tất cả họ thuộc nhóm nghiên cứu của giáo sư Ronald Hanson của Đại học Delft.

Internet lượng tử
Bằng cách khai thác sức mạnh của sự vướng víu lượng tử, về mặt lý thuyết có thể xây dựng một mạng lượng tử không thể nghe trộm được. Tuy nhiên, việc thực hiện một mạng lượng tử như vậy là một thách thức thực sự: bạn phải có khả năng tạo ra sự vướng víu đáng tin cậy, 'theo yêu cầu', và duy trì nó đủ lâu để dẫn truyền thông tin vướng mắc tới giao điểm tiếp theo. Cho đến nay, điều này đã vượt ra ngoài khả năng của các thí nghiệm lượng tử.

Các nhà khoa học tại QuTech ở Delft nay là những người đầu tiên thực nghiệm tạo ra sự vướng víu trên một khoảng cách 2 mét trong một phần nhỏ của một giây (Per/seconds) 'theo yêu cầu', và sau đó duy trì sự vướng víu này đủ lâu để cho phép (về mặt lý thuyết) rối hơn nữa để một nút thứ ba. 'Thách thức hiện nay là để là người đầu tiên để tạo ra một mạng lưới với vô số vướng víu: nó sẽ là phiên bản đầu tiên của một Internet lượng tử', giáo sư Hanson cho biết.



Nguyễn Hoàng Thế Anh

www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Muối Nóng Chảy Một Ứng Dụng Mới Trong Nghành Năng Lượng Hạt Nhân

Muối Nóng chảy so với chì rắn
Các nhà khoa học sẽ khám phá tính chất của "muối nóng chảy" có tiềm năng để sử dụng trong ứng dụng # Năng Lượng Hạt nhân - Bộ Năng lượng (DOE) đã công bố tài trợ cho một Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Frontier mới (EFRC) để được dẫn dắt bởi Phòng thí nghiệm quốc gia Brookhaven DOE. Các Brookhaven EFRC, có tên là “Muối Molten trong Môi trường Extreme ,” sẽ tập trung vào việc tìm hiểu các thuộc tính của một lớp vật liệu với các ứng dụng tiềm năng về công nghệ năng lượng , đặc biệt là trong điện hạt nhân. Đây là một trong số 42 công bố của EFRCs bởi DOE rằng sẽ nhận được tổng cộng 100 triệu Mỹ Kim trong năm tài chính 2018 nhằm thúc đẩy những bước đột phá khoa học cần thiết để tăng cường sự ưu thế lãnh đạo của Mỹ về kinh tế và an ninh năng lượng.


“An ninh năng lượng của Mỹ và khả năng cạnh tranh toàn cầu sẽ phụ thuộc phần lớn dựa trên một nỗ lực bền bỉ trong việc khám phá khoa học mới”, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Rick Perry nói. “Bằng cách huy động tài năng của các nhà khoa học hàng đầu đất nước của chúng ta và rèn chúng thành, các đội chủ động mạnh mẽ, chương trình EFRC sẽ giúp đảm bảo sự lãnh đạo của Mỹ trong việc phát triển công nghệ năng lượng quan trọng và sự đổi mới.”


Muối nóng chảy là vật liệu được cấu tạo chính yếu từ các ion tích điện dương và ion điện tích âm ở trạng thái lỏng dưới nhiệt độ cao. Brookhaven EFRC trên các muối nóng chảy trong môi trường khắc nghiệt (MSEE) sẽ khám phá các tính chất cấu trúc và tính động năng của các vật liệu này với số lượng lớn và sự tiếp xúc giữa chúng với các vật liệu khác để phát triển sự hiểu biết cần thiết cho dự đoán và kiểm soát các tính chất vật lý và hóa học của chúng. Trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, các muối nóng chảy có thể được sử dụng để làm mát cho các lò phản ứng nhiên liệu rắn, hoặc như một vật liệu hoạt động đồng thời như một dung môi và chất làm mát cho nhiên liệu hạt nhân. Các ứng dụng tiềm năng khác bao gồm tái chế nhiên liệu hạt nhân, luyện kim, pin và thu gom nhiệt, vận chuyển và lưu trữ.

Nguyễn Hoàng Thế Anh.
Xem chi tiết…

Putin tham dự lễ động thổ nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ

 Zcomity  (07/04/2018): Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ đã được khởi động vào thứ ba với một buổi lễ có sự tham dự của Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng nhiệm Thổ Nhĩ Kỳ. Moscow đang giúp Ankara xây dựng nhà máy điện, ước tính nhà máy này sẽ cung cấp 10 phần trăm nhu cầu điện của Thổ Nhĩ Kỳ.
Erdogan và Putin

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ở Thổ Nhĩ Kỳ hôm thứ Ba tham dự lễ động thổ nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ, được xây dựng với sự giúp đỡ của Moscow. Nhà máy điện hạt nhân Akkuyu dự kiến sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2023.

Buổi lễ cũng có sự tham dự của đối tác Thổ Nhĩ Kỳ Putin, Recep Tayyip Erdogan. Theo tờ Gazette Daily Daily của Thổ Nhĩ Kỳ, tại buổi lễ, ông Putin nói rằng dự án nhà máy điện sẽ là một biểu tượng của mối quan hệ mạnh mẽ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Nga sau khi hoàn thành. Erdogan cũng phát biểu tại buổi lễ, nói rằng nhà máy cuối cùng sẽ bao gồm 10 phần trăm nhu cầu điện của đất nước.

Ngày mai, Putin sẽ ở Ankara để tổ chức một hội nghị thượng đỉnh ba chiều với Erdogan và đối tác Iran, Hassan Rouhani. Các cuộc hội đàm sẽ tập trung vào cuộc chiến tại Syria. Cả ba quốc gia này đang tham gia rất nhiều vào quốc gia Ả Rập bị chiến tranh tàn phá và hiện đang tài trợ cho các nỗ lực hòa bình để đưa cuộc xung đột chấm dứt.


Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Hải Quân Mỹ đã đầu tư phát triển đầy đủ cho hệ thống Vũ Khí điện từ Railgun

 Zcomity  (15/03/2018): Trang Military.com báo cáo rằng Đô đốc John Richardson nói với Hạ Viện rằng Hải quân Hoa Kỳ rằng đã đầu tư đầy đủ vào Vũ khí điện từ Railgun và đang tiếp tục các cuộc kiểm tra.

Các bài kiểm tra hệ thống Railgun đã chứng minh nó ở tốc độ bắn thấp hơn và ... phạm vi ngắn hơn. Giờ đây, Hải quân Hoa Kỳ đang nghiên cứu kỹ thuật để tăng tốc độ và khoảng bắn đầu đạn lên từ 80 đến 100 dặm.
Ảnh: Nòng Súng Điện Từ Railgun, một loại vũ khí tiên tiến và độc nhất vô nhị, nó vận hành bằng cách tích tụ xung điện từ tạo lực đẩy cho môt đầu đạn Phi thuốc nổ, lao đi với vận tốc ước tính gấp 7 lần tốc độ âm thanh. khả năng là hủy diệt mục tiêu bằng động lượng.

Richardson cho biết vũ khí này vẫn chưa đạt được mức đó mặc dù được dự đoán.

"Điều đó liên quan đến một số công nghệ", ông nói. "Nòng bắn này có lẽ là trường hợp kỹ thuật còn hạn chế, các vật liệu cần thiết để duy trì xung điện, sức nóng và áp lực liên quan đến việc phóng những quả đạn đó. Và chúng tôi đang tăng gấp đôi những điều đó. "

Các kỹ sư đã tìm thấy nòng súng đã mòn nhanh chóng khi những viên đạn kim loại được bắn với tốc độ phồng rộp mà công nghệ của Railgun mang lại. Một vấn đề khác chưa được giải quyết là nguồn năng lượng cho súng; hiện nay, chỉ có lớp tàu Zumwalt (ba tàu mới của loại tàu khu trục cỡ lớn )được cho là có khả năng cung cấp điện tích cần thiết để vận hành hệ thống vũ khí này. Hải quân muốn triển khai một phiên bản Vũ khí điện từ Railgun trên tàu khu trục cỡ nhỏ.

Hải quân Hoa Kỳ đã rất "ý thức" về những thành tựu từ báo cáo của Trung Quốc về công nghệ Railgun.


Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Kho Vũ khí Hạch tâm Của Israel khiến Syria bất an

Zcomity (12-11-2017): Trong bài phát biểu hôm thứ Sáu tại Đại hội đồng LHQ, Đại sứ Syria Bashar Jaafari đã công kích chương trình vũ khí hạt nhân của Israel và tuyên bố rằng thế giới đang làm ngơ trước sự tồn tại của  nỗ lực loại bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Bashar Jaafari đại sứ Syria tại LHQ

Đại sứ Syria tại Liên hợp quốc, ông Bashar Jaafari cáo buộc các nước phương Tây bảo trợ công nghệ hạt nhân của Israel, trong một bài phát biểu tại Đại hội đồng LHQ hôm thứ Sáu. Ông tuyên bố rằng các Quốc gia phương Tây đang giúp Israel nằm ngoài Hiệp ước về Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Jaafari nói rằng phương Tây đang cung cấp cho Israel công nghệ hạt nhân và thậm chí đề cập đến việc Israel sở hữu các tàu ngầm công nghệ cao của Đức, có thể được trang bị đầu đạn Hạt nhân. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của nổ lực toàn cầu để bài trừ Chiến tranh hạt nhân và nhấn mạnh việc nên đưa Israel vào hiệp ước cấm Phổ biến vũ khí Hạt Nhân, nói thêm rằng vũ khí độc đáo của Jerusalem đang vi phạm các hiệp định quốc tế.
Trung tâm nghiên cứu hạt nhân của Israel  tại Dimona

Jaafari đề cập rằng trong năm 2003, Syria đã đưa ra đề xuất với Hội đồng Bảo an LHQ về việc giải trừ hạt nhân ở Trung Đông nhưng đã gặp phải sự phản đối từ Mỹ và đe dọa sẽ phủ quyết nó. Ông nói rằng điều này cho thấy rằng cam kết của Tây Phương để loại bỏ vũ khí hạt nhân ở Trung Đông là một lời nói dối. Vị đại sứ Syria này còn tuyên bố rằng Israel đang từ chối hợp tác với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và tiếp tục phát triển năng lực hạt nhân của mình mà không có sự giám sát của Quốc tế.
Xem chi tiết…

Subatomic giải phóng năng lượng mạnh gấp 8 lần Bom Khinh Khí

Theo một bài báo mới đăng trên tạp chí Nature, 2 hạt hạ nguyên tử siêu nhỏ trên lý thuyết có thể va chạm để tạo ra một "quarksplosion" với mức năng lượng sinh ra gấp 8 lần so với phản ứng tạo ra các quả bom nhiệt hạch Hydro. Trên thực tế, đồng tác giả của tạp chí Live Science, họ rất nghiêm túc xem xét việc không công bố phát hiện này, vì vụ va chạm tạo ra rất nhiều năng lượng, điều này khiến các nhà khoa học Lo sợ và che giấu kết quả thí nghiệm.


Nó rất rõ ràng: Đây là tất cả các công việc lý thuyết, mặc dù nó dựa trên kết quả thực nghiệm thực tế từ Máy Va chạm Hadron Lớn, một máy đập vỡ hạt ở Châu Âu. Và mặc dù đó là một phát hiện khá thú vị để nghĩ đến, chẳng có cách nào để ai đó có thể khai thác sức mạnh của vụ nổ mạnh mẽ này để gây ra bất kỳ thiệt hại nào-  đơn giản bởi vì chúng quá nhỏ bé.

Marek Karliner, nhà vật lý hạt ở Đại học Tel Aviv ở Israel, nói với Live Science rằng: " Trong một khoảnh khắc chỉ một giây, nếu cho rằng đây là ứng dụng trong vũ khí Quân sự, tôi sẽ không xuất bản nó.

Bài báo mới được lấy cảm hứng từ một phát hiện tại Máy Va chạm hạt Lớn Large Hadron Collider vào đầu năm nay của những gì mà các nhà khoa học gọi là hạt "thuần khử" doubly-charmed. Charmed không có nghĩa là nó đã được ban phước bởi bà mẹ đỡ đầu - nó thực sự đề cập đến một trong sáu loại hạt cơ bản Quark khác nhau. Các hạt quark là một thành phần cơ bản của vật chất mà không thể bị phá vỡ thêm nữa. Nhưng sáu loại Quark khác nhau đều có kích cỡ khác nhau, và các nhà khoa học đã không nhận ra rằng hai loại hạt charm quark, tương đối lớn, có thể bị mắc kẹt cùng nhau trong một hạt. Khám phá bí ẩn này đã khiến họ phải suy nghĩ lại niềm tin đó.

Khi Karliner và đồng tác giả của ông đọc về khám phá Máy Va chạm Hadron Lớn, họ đã tự hỏi những luồng năng lượng nào có liên quan khi hai hạt cơ bản charm quark sáp nhập. Những mảnh vụn hợp nhất ở mọi lúc: cùng một loại hiện tượng giữa bốn nguyên tử Hydrogen cung cấp năng lượng cho mặt trời, một số nhà máy điện và các bộ phận của quả bom Hạt nhân hiện đại ngày nay.

Sự tương tác này sử dụng một số năng lượng để liên kết hai Quark nhưng cũng tạo ra một số năng lượng: khoảng 12 megaelectronvolts (khá bé nhỏ, khoảng 2/3 lượng năng lượng được sản xuất bởi một cặp nguyên tử hydro nóng chảy) cho các cặp charm quark , các nhà khoa học nhận thấy.

Sau đó, họ quyết định vận hành một số lượng hạt Quark lớn hơn, gọi là những hạt bottom Quark, thậm chí còn nặng hơn hạt charm quark. Và đây là nơi mà pháo hoa thực sự được tạo ra: Theo tính toán của họ, hai bottom Quark sẽ phát ra 138 megaelectronvolts năng lượng.

Nhưng khác với các nguyên tử Hydro được tìm thấy trong các quả bom, các hạt bottom Quark rất không ổn định nên không thể thu thập được đủ số lượng để tạo ra các phản ứng dây chuyền, cho phép chế tạo các quả Bom phản ứng nhiệt hạch đáng kể. Một hạt bottom quark trở thành một ít thú vị hơn, chưa kể đến sức mạnh của up quark trong một phần nhỏ của một giây. Xét cho cùng mọi thứ cũng không có cơ hội để phát nổ.

Nguyễn Thế Anh.
Xem chi tiết…

Tạo ra Tên lửa Plasma - Mỹ tiếp tục dẫn đầu Công nghệ Thế giới thêm vài mươi năm

Zcomity (11-08-2017): Hầu hết các động cơ phản lực hiện nay là tên lửa hóa học, có nghĩa là chúng di chuyển không trung bằng cách kết hợp các hóa chất nhất định theo cách làm cho chúng nổ tạo sức nén cho lực đẩy. Hóa chất chứa trong tên lửa thông thường rất nặng và nhanh chóng bị đốt cháy, điều này rất tốt để bay khỏi bề mặt trái đất, nhưng nó không thuận tiện hơn khi thực hiện các chuyến du hành dài đến hệ mặt trời.

Đối với những chuyến đi dài hơn này, NASA đang xem xét sử dụng một loại động cơ tên lửa plasma. Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA đã trao hợp đồng cho công ty Ad Astra vào năm 2015 để chế tạo một tên lửa plasma, và tên lửa này đang nhanh chóng đi đến sẵn sàng. Công ty đã chạy một số bài kiểm tra ngắn về động cơ và đang chuẩn bị thử nghiệm cho nó hoạt động dài hơn 100 giờ. Một khi điều đó xảy ra vào năm sau, động cơ tên lửa sẽ được gần gũi hơn với các nhiệm vụ thực sự.
Ảnh: Một phi thuyền đang sử dụng động cơ dẩy Plasma.
Tên lửa plasma, gọi là Variable Specific Impulse Magnetoplasma Rocket (VASIMR), hoạt động bằng cách đốt nóng khí neon hoặc argon với nhiệt độ cao bất thường bằng từ trường. Mạch nóng này sau đó được bắn ra khỏi mặt sau của tên lửa ở tốc độ rất cao, tạo ra lực đẩy. Tên lửa plasma có lợi thế hơn các loại tên lửa sử dụng nhiên liệu hóa học truyền thống vì nó có thể cung cấp một lực đẩy nhỏ trong một khoảng thời gian  kéo dài rất lâu, chẳng hạn như một ngày, một tuần hoặc cả tháng.
Plasma là dạng vật chất thứ 4 . bên cạnh các dạng vật chất khác là : thể rắn thể lỏng, thể Khí, Plasma thể Ion

Thời gian đốt nhiên liệu lâu hơn có nghĩa là tên lửa Plasma cần ít nhiên liệu hơn và khi nó tiêu thụ ít nhiên liệu hơn có nghĩa là phi thuyền có thể mang theo nhiều hàng hóa hơn. Tất nhiên, thời gian đốt lâu hơn cũng có nghĩa là thời gian đi lại dài hơn, nhưng khi bạn chỉ cần khuây khuây khoảng vài tuần hoặc vài tháng thì không quá quan trọng. Ngoài việc vận chuyển hàng hoá, các tên lửa plasma có thể được sử dụng để đưa các tàu vũ trụ tới những nơi xa và nhanh hơn. Các tên lửa Plasma có thể cho phép chúng ta đến được Mộc tinh, sao Thổ, hoặc xa hơn trong một hoặc hai năm thay vì hàng thập kỷ, có nghĩa là sẽ có nhiều nhiệm vụ bay quanh hệ mặt trời hơn.

Trong một vài năm tới, plasma có thể đẩy chúng ta bay quanh Hệ mặt trời.




Nguyễn Hoàng Thế Anh.
Xem chi tiết…

Nguồn gốc của Bom Khinh khí " bom Hydro" với sức công phá tàn bạo nhất hành tinh

Trong khoảnh khắc một phần nghìn giây nhiệt độ của nó lên đến 1 triệu độ C đạt sức nóng tương đương với bề mặt của Mặt trời, đó chính là Bom nhiệt hạch, một loại vũ khí có sức công phá đáng sợ nhất hành tinh gấp trăm lần bom nguyên tử thông thường, nó là loại vũ khí có sức mạnh vô song.

Bạn có biết Cha Đẻ bom Nhiệt Hạch, bom Khinh Khí, bom , bom H là người Do Thái

Edward Teller (1908 - 2003) cha đẻ bom nguyên tử H

Theo nhà bác học Lewis Strauss, Chủ Tịch của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, thì các nhà bác học có thể được xếp thành ba loại: loại thứ nhất chỉ chuyên tâm vào môn Khoa Học thuần túy, những người thuộc loại thứ hai chú ý tới các áp dụng của Khoa Học, còn sau cùng là những nhà bác học quan tâm tới ảnh hưởng của Khoa Học trên phương diện chính trị. Tuy nhiên, cũng có nhà bác học thuộc về cả ba loại kể trên: đó là trường hợp của ông Edward Teller.
Ảnh: vụ nổ Bom nhiệt hạch

Edward Teller không phải là người chỉ biết sống trong tháp ngà. Ngoài những lúc đắm mình trong các bài toán vật lý nguyên tử, ông còn phụ trách việc giảng dạy môn Vật Lý Cao Cấp hoặc liên lạc với Bộ Quốc Phòng, vì ông vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn thuộc Ủy Ban Nguyên Tử Lực, vừa là hội viên của Tiểu Ban Tư Vấn Khoa Học thuộc Bộ Không Lực Hoa Kỳ. Ngoài công việc khảo cứu Khoa Học, sở dĩ Edward Teller còn chú tâm tới chính trị cũng vì những ảnh hưởng do thời thơ ấu của ông.

1/ Thời niên thiếu.

Edward Teller chào đời vào ngày 15 tháng 1 năm 1908 tại thành phố Budapest, thuộc nước Hung Gia Lợi, trong một gia đình giàu có dòng dõi Do Thái. Sau cuộc Thế Chiến Thứ Nhất, nước Hung bị chia cắt và nền kinh tế của đất nước này sụp đổ. Vì cảm thấy sự bại vong của đất nước và vì nhận ra các dấu hiệu bài Do Thái, người cha của Edward Teller đã in sâu vào tâm khảm của cậu con trai hai điều: thứ nhất, khi nào tới tuổi thanh niên đầy đủ khả năng, cậu phải di cư sang một xứ sở nào hiếu khách hơn, thứ hai, vì thuộc vào lớp người thiểu số bị ghét bỏ, cậu phải vượt lên những kẻ khác để có thể đồng đẳng với họ.

Vì thế ngay từ thuở nhỏ, Edward Teller đã lo sợ trước nỗi ám ảnh của những chính thể độc tài. Cậu đã hiểu rõ những kết quả tai hại do các cuộc thất bại mang đến. Chính những lời dặn của người cha, chính sự lo lắng cho tương lai đã khiến Edward Teller trở nên một người làm việc siêng năng. Thời còn theo ban trung học tại Budapest, cậu Edward đã tỏ ra là một học sinh có năng khiếu về Toán Học và đã vượt xa các bạn một cách dễ dàng. Ngoài thú vui làm toán, Edward còn ưa thích Âm Nhạc, Văn Thơ, ham đánh cờ hoặc đi tản bộ trong miền thôn dã. Edward Teller đã làm thơ và đã sáng tác khi rung động trước đôi mắt xanh của cô em gái một người bạn.

Sau khi học xong bậc trung học, Edward Teller ghi tên vào Viện Kỹ Thuật của thành phố Karlsruhe, nước Đức, tốt nghiệp kỹ sư Hóa Học rồi tới Munich và Leipzig, theo học ngành Hóa Lý (physical chemistry), lãnh văn bằng Tiến Sĩ vào năm 1930. Đề tài của luận án tốt nghiệp của Edward Teller gồm khảo cứu về ion của phân tử hydrogen (hydrogen molecular ion), sự nghiên cứu này đã đặt nền móng cho một lý thuyết về quỹ đạo phân tử (molecular orbital) mà ngày nay còn được giới Khoa Học chấp nhận rộng rãi.

Vào năm 1933 khi Hitler lên nắm chính quyền tại nước Đức thì Edward Teller đang nghiên cứu cách cấu tạo phân tử của vật chất và theo học môn vật lý lý thuyết dưới sự chỉ dẫn của nhà bác học Niels Bohr tại Copenhagen, nước Đan Mạch, rồi sau đó giảng dạy môn Vật Lý tại trường Đại Học Goettingen từ năm 1933 tới năm 1935. Thời bấy giờ, người Đức Quốc Xã bắt đầu bạc đãi giống dân Do Thái. Edward Teller liền lợi dụng cơ hội này, trốn sang nước Anh cùng bà vợ Augusta Harkanyi rồi hai năm sau, ông sang Hoa Kỳ, nhận chân Giáo Sư Vật Lý tại trường Đại Học George Washington. Trong thời gian giảng dạy này, Edward Teller đã khảo cứu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, tức là những điều cho phép nhà khoa học cắt nghĩa được nguyên nhân sự cháy sáng của các vì sao. Cùng với nhà vật lý George Gamow, Edward Teller thiết lập ra các quy luật mới để xếp hạng các cách theo đó các hạt hạ nguyên tử (subatomic particles) có thể thoát ra khỏi nhân nguyên tử trong thời kỳ phân rã phóng xạ (radioactive decay).

Bẩy tháng trước ngày Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, các nhà bác học Hoa Kỳ cảm thấy lo ngại khi hay tin tại nước Đức, các nhà vật lý đã thành công trong việc phá vỡ nhân nguyên tử. Khi Thế Chiến xẩy ra thì tại châu Mỹ, nhà bác học Léo Szilard cũng đạt được các kết quả khả quan trong các thí nghiệm về hạch tâm và chứng tỏ rằng nước Mỹ có thể chế tạo được một thứ bom cực kỳ mạnh. Léo Szilard cùng vài nhà bác học khác liền vận động để chính phủ Hoa Kỳ khởi sự công cuộc chế tạo thứ vũ khí đó.

Muốn cho Tổng Thống Franklin D. Roosevelt phải đặc biệt chú ý, các nhà bác học Mỹ đồng ý rằng cần có chữ ký của nhà Đại Bác Học Albert Einstein. Szilard liền nhờ Edward Teller đưa xe tới Peconic Bay, thuộc tiểu bang New York, để gặp Einstein và nhờ vậy, Dự Án Manhattan ra đời, cho phép các nhà khoa học thực hiện những điều hiểu biết mà từ trước, chúng vẫn còn ở trong lãnh vực lý thuyết. Như vậy cuộc viếng thăm Albert Einstein tại Peconic Bay đã đánh dấu một khúc quanh trong quãng đời của Edward Teller. Từ đây ông không còn có thể dửng dưng trước các vấn đề chính trị, chiến tranh và nhất là vấn đề võ trang quân đội.

2/ Nghiên cứu về Bom Khinh Khí.

Năm 1941, Edward Teller gia nhập quốc tịch Hoa Kỳ rồi tới năm 1946, tham gia vào nhóm các khoa học gia của Enrico Fermi tại Viện Khảo Cứu Nguyên Tử (the Institute for Nuclear Studies) thuộc trường Đại Học Chicago, tại nơi này, phản ứng hạt nhân dây chuyền (nuclear chain reaction) đã được thực hiện. Sau đó, Edward Teller nhận lời mời tới trường Đại Học U.C. Berkeley để khảo cứu lý thuyết về loại bom nguyên tử loại A cùng với J. Robert Oppenheimer rồi khi Oppenheimer thiết lập nên Cơ Sở Thí Nghiệm Khoa Học tại Los Alamos, thuộc tiểu bang New Mexico, vào năm 1943 thì Edward Teller là người đầu tiên được tuyển dụng.

Trong khi quả bom nguyên tử A còn đang ở trong thời kỳ chế tạo, Edward Teller lại tìm ra một phương pháp mới dùng nhiệt lượng hạch tâm để từ đó chế tạo ra một thứ bom cực kỳ mạnh. Edward Teller đã cùng nhà vật lý Stanislaw M. Ulam khám phá ra cấu hình Teller-Ulam (the Teller-Ulam configuration) dùng làm căn bản cho việc chế tạo vũ khí hỗn hợp hạt nhân (fusion weapons). Nhưng khi hai quả bom nguyên tử A nổ, san phẳng hai thành phố Hiroshima và Nagasaki một cách quá khốc hại, thì phần lớn các nhà bác học trong chương trình Manhattan bị lương tâm cắn dứt, họ hối hận về thứ phát minh mới đó, không muốn tiếp tục công cuộc khảo cứu các vũ khí nguyên tử và không quan tâm đến dự định của Edward Teller.

Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt được vài năm. Mọi người quên lãng thứ khí giới khủng khiếp kể trên thì vào tháng 8 năm 1949, Liên Xô cho nổ quả bom nguyên tử đầu tiên của họ. Cuộc thí nghiệm này khiến cho tại Hoa Kỳ, nhiều người lo ngại. Edward Teller liền đưa ra dự án chế tạo bom H với sức tàn phá còn khốc liệt gấp ngàn lần thứ bom A thả xuống đất Nhật. Tuy nhiên, cũng có người lại cho rằng Liên Xô chế tạo được vũ khí nguyên tử sẽ làm quân bình thế giới trên phương diện chính trị. Trong khi mọi người đang xôn xao thì phần lớn các nhà bác học thuộc Tiểu Ban Tư Vấn của Ủy Ban Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ, dưới quyền chủ tọa của Robert Oppenheimer, đã đồng thanh tuyên bố chống lại mọi dự án chế tạo bom H. Edward Teller phải đi ngược lại quyết định trên với một phần thắng rất mỏng manh. Ông cũng được Lewis Strauss giúp đỡ.

Cuộc tranh chấp với Oppenheimer đang dằng dai thì tới tháng 1 năm 1950, một vụ gián điệp nguyên tử bị phát giác và làm rung chuyển dư luận thời bấy giờ. Thủ phạm là Klaus Fuchs, một nhà bác học gốc Đức, quốc tịch Anh và làm việc tại nước Anh, đã thú nhận có trao các tài liệu nguyên tử cho các gián điệp của Liên Xô. Hơn nữa, Fuchs cũng giúp việc tại căn cứ Los Alamos và cũng đã biết các tài liệu về các phản ứng nhiệt lượng hạch tâm, điều này làm cho Hoa Kỳ lo ngại. Bốn ngày sau buổi nhận tội của Fuchs, Tổng Thống Harry Truman hạ lệnh cho Ủy Ban Nguyên Tử Lực bắt tay vào công cuộc chế tạo bom H.

Vào tháng 11 năm 1952, cuộc thử bom loại H thứ nhất đã làm biến mất hòn đảo san hô Elugelab tọa lạc tại phía nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên đây chưa hẳn là quả bom H. Theo một nhà bác học thì vào thời đó, nguyên tắc chế tạo bom H chỉ có hai người thấu triệt, đó là ông Edward Teller và nhà bác học Liên Xô Andrei Sakharov.

Cũng vào năm 1952, Edward Teller là nhà khoa học có công rất lớn trong việc thiết lập nên cơ sở thí nghiệm nguyên tử thứ hai của Hoa Kỳ, đó là Trung Tâm Thí Nghiệm Lawrence Livermore, đặt tại Livermore thuộc tiểu bang California, rồi trong 4 thập niên kế tiếp, đây là cơ xưởng chính của Hoa Kỳ đã chế tạo ra các vũ khí nhiệt tâm (thermonuclear weapons). Edward Teller đã là phụ tá giám đốc của Trung Tâm này từ năm 1954 tới năm 1958 và từ năm 1960 tới năm 1975, rồi nhận chức vụ giám đốc vào các năm 1958 - 60, đồng thời ông cũng là Giáo Sư Vật Lý tại Đại Học U.C. Berkeley từ năm 1953 tới năm 1970.

Edward Teller là nhà khoa học chống đối tích cực chế độ Cộng Sản. Trong thập niên 1960, ông đã giúp công vào tiến trình Hoa Kỳ vượt qua Liên Xô về vũ khí nguyên tử. Ông đã phản đối Hòa Ước Chống Thí Nghiệm Nguyên Tử Năm 1963 (the 1963 Nuclear Test-Ban Treaty) qua đó cấm cản việc thử vũ khí nguyên tử trên tầng không, đồng thời ông cũng là người tiền phong trong Dự Án Plowshare (Project Plowshare), một chương trình của chính phủ Liên Bang đi tìm kiếm các công dụng hòa bình của các vụ nổ nguyên tử.

Vào thập niên 1970, Edward Teller là cố vấn của chính sách vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ rồi tới các năm 1982 - 83, ông Teller cũng ảnh hưởng tới Tổng Thống Ronald Reagan trong Dự Án Bảo Vệ Chiến Lược (the Strategic Defense Initiative) và đây là một hệ thống phòng vệ các cuộc tấn công nguyên tử của Liên Xô.

Theo ông Edward Teller, Khoa Học ngày nay là Kỹ Thuật của ngày mai, vì thế ông cho rằng muốn thắng Liên Xô trên địa hạt Khoa Học, Hoa Kỳ phải đẩy mạnh phong trào khảo cứu Khoa Học thuần túy và gia tăng nền giáo dục Khoa Học tại các trường trung học. Vẫn theo ông Edward Teller, việc học hỏi Khoa Học không đòi hỏi một năng khiếu bẩm sinh mà cần phải chú tâm đến vấn đề. Ông cho rằng chỉ có Khoa Học mới giải quyết được các vấn đề gai góc mà chúng ta sẽ gặp phải, nhất là khi trái đất càng ngày càng trở nên chật hẹp trước sự bành trướng về nhân số và kỹ nghệ.

Ông mất hôm thứ Ba ngày 10 tháng 9 năm 2003

Vũ khí hạt nhân đơn giản là lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A.

Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc liti, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử.

Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như Coban hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.
Xem chi tiết…

Bom Phản vật chất Anti-Matter Với Sức Mạnh Vô Song

Anti- Matter hay phản vật chất, với sức mạnh vô song, nó có sức công phá gấp 100 trăm lần Bom hạt nhân, phản vật chất cũng giống vật chất thông thường, ngoài việc chúng có điện tích trái dấu, thay vì chúng có các electron mang điện tích âm và Proton mang điện tích dương thì Phản vật chất có các electron mang điện tích dương và Proton mang điện tích âm nên khi đó phản vật chất và vật chất thông thường gặp nhau chúng lập tức triệt tiêu nhau và giải phóng năng lượng với hiệu xuất 100%. 

Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về nguồn gốc của khám phá từng giúp nghành Vật lý Học thoát khỏi cuộc khủng hoảng. 

Một thiết bị chứa Anti-Matter của Cern
Các tàu không gian trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng thường được cấp năng lượng bởi những động cơ đẩy bằng Phản Vật Chất. Các quả bom theo thuyết vị lai được thiết kế dựa trên phản vật chất. Tuy nhiên, cả bạn lẫn những người bạn gặp vẫn chưa bao giờ nhìn thấy một hạt phản vật chất nào. Phản vật chất không tồn tại ở dạng mà bạn có thể cầm nắm được mà chỉ là các hạt hạ nguyên tử riêng biệt, rải rác. Paul Dirac được nhiều người xem là nhà vật lý học lý thuyết người Anh vĩ đại nhất kể từ thời của Newton. Dirac là người đầu tiên dự đoán sự tồn tại rất cần thiết của các hạt Positron và antiproton, hay còn gọi là phản vật chất. Khái niệm về Phản vật chất đã tạo ra một con đường mới để nghiên cứu và tìm hiểu vật lý. Khám phá về phản vật chất của Dirac đã trở thành nền tảng lý thuyết cho vật lý hạt nhân hiện đại. Các nhà vật lý học và Vũ trụ học hiện đại đã có thể mở rộng và áp dụng các quy tắt trong vật lý lượng tử, động lực điện lượng tử và cơ học lượng Tử - phần lớn là nhờ vào khám phá của Dirac. Với bản tính hay xấu hổ, nhút nhát và kín đáo, chàng sinh viên 21 tuổi tốt nghiệp nghành vật lý ở đại học Cambridge, Paul Dirac, có rất ít bạn bè nhưng lại vô cùng nổi tiếng với trí tuệ toán học siêu việt của mình.

Vào năm 1923, khi thuyết tương đối và thuyết cơ học lượng tử đã được phát triển vững chắc, nhưng những hạn chế, ẩn ý đích thực và ý nghĩa của chúng thì vẫn chưa rõ rang. Cơ học lượng tử, nghành nghiên cứu những hệ thống rất nhỏ mà vật lý Newton đã phân tích, vố dựa trên sự giả định cho rằng vật chất hạ nguyên tử hoạt động giống với cả hạt lẫn sóng. Những mâu thuẫn và ẩn ý trái ngược trong giả định này, cùng với các phương pháp toán học được sử dụng để mô tả nó, đã khiến nền vật lý rơi vào khủng hoảng. Thông qua một loạt những nổ lực nghiên cứu tỉ mỉ và các bài luận chính xác, rõ rang, Dirac bắt đầu tháo gỡ những điểm thiếu nhất quán này, mang lại sự minh bạch và hợp lý cho một số vấn đề trước đây từng được xem là không chắc chắn. Ông đã tính toán vận tốc hạt được định nghĩa bới “ các phương trình của Eddington.” Ông cũng đã giải quyết những điểm khác biệt với tính đồng biến trong điều kiện tần số của Niels Bohr. Vẫn trong vai trò một nghiên cứu sinh, Dirac đã công bố 5 bài luận quan trọng và hướng sự tập trung của mình sang một vấn đề tổng quát hơn, liên quan đến việc hợp nhất thuyết cơ học lượng tử (những quy luật chi phối thế giới quy mô của các hạt cơ bản) và thuyết tương đối ( những quy luật chi phối thế giới vĩ mô của lực hấp dẫn từ các hành tinh và vũ trụ).

  Thông qua công trình này, Dirac đã giúp năng lực kỹ sư của ông để biết chấp nhận và sử dụng các phép tính xấp xỉ mỗi khi các phép tính chính xác không thể áp dụng được hoặc khi các phép đo lường chính xá không tồn tại. Khả năng này cho phép ông thám hiểm những lĩnh vực phân tích mới, những lĩnh vực mà do thiếu các phép tính đo lường chính xác nên đã làm chùn chân các nhà nghiên cứu trước đây. Dirac chủ yếu sống trong thế giới toán học cao cấp khi tiến hành những nghiên cứu này. Ông sử dụng kết quả từ vô số các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm do các nhà nghiên cứu khác tiến hành để xác minh và kiểm tra các phương trình lẫn các mô hình toán học của mình. Trong thời gian hoàn thành chương trình tiến sĩ và thong qua 5 năm làm việc với vai trò nh2 nghiên cứu ở Đại học Cambridge, Dirac đã rất nỗ lực để hóa giải sự không tương hợp giữ hai hệ thống suy nghĩ và phân tích quan trọng này. Vào năm 1929, Dirac nhận thấy rằng các phép tính toán của ông yêu cầu một số hạt hạ nguyên tử phải tồn tại, những hạt mà trước đây chưa từng được phát hiện hay nghĩ đến. Để đảm bảo tính hợp lý trong các chương trình do ông dày công nghiên cứu và đối chứng với những kết quả thí nghiệm thì một tập hợp của những hạt hoàn toàn mới phải thực sự tồn tại. Những hạt mới này có khối lượng và thành phần cấu tạo giống hệt những hạt đã biết, nhưng lại mang theo điện tích trái dấu. Proton và neutron là những hạt đã biết.
Khối năng lượng Phản vật chất khi chạm mục tiêu nó sẽ tan biến sau đó giải phóng 100% nguồn năng lượng 

Dirac kết luận rằng các hạt mang điện tích âm nhưng lại có khối lượng tương đương cũng tồn tại. Sự tồn tại của hạt anti-proton, hay gọi là phản vật chất, đã được khẳng định 25 năm sau đó. Tương tự như vậy, Dirac kết luận rằng nếu electron tồn tại thì các hạt mang điện tích dương và trung tính có khối lượng tương đương( lần lược là Positron và neutrino) cũng phải tồn tại. Sự tồn tại của hạt Positron đã được khẳng định hai năm sau đó, vào năm 1932. Các Neutrino được khẳng định một cách chắc chắn vào giữa những năm 1970, nhưng khối lượng của chúng vẫn chưa được xác định cho đến khi các nhà nghiên cứu người Nhật Bản hoàn thành công việc này vào năm 1998. Do đó, Dirac đã khám phá ra sự tồn tại của Phản vật chất và chứng minh rằng những hạt chúng ta có thể nhìn thấy, sờ và phân tích chỉ đại diện cho một nửa những loại hạt đang hiện diện trong Vũ Trụ. Khi làm như vậy, Dirac đã giúp khoa học tiến gần hơn đến việc nhìn nhận thế giới vật lý bằng một cách nhìn chính xác hơn.

Xem thêm: Bí ẩn vụ Nổ vô cùng lớn ở Sibiria



Thế Anh.

Xem chi tiết…

Bí Ần Vụ Nổ Ở Tanguska Siberia Vào Năm 1908

Vào lúc 7 giờ 17 phút ngày 30/1908, trong bầu khí quyển bên trên Siberia khoảng 8 km xảy ra một vụ nổ vô cùng lớn. Nó khiến cho cả khu rừng bên dưới bị cháy loan lổ và làm rạp cây cối trong bán kính hơn 30km. Nó làm mọi người té xuống đất và làm vỡ kính cửa sổ cách đó 80km. cách xa nơi đó 150 km, nhiều nhân chứng kể họ đã nhìn thấy vụ nổ tạo một đám mây khói đen khổng lồ đi kèm với tiếng vang đinh tai. Âm thanh đinh tai nhức óc này cũng được những người cách đó gần 300km, và nhiều thiết bị khoa học trên toàn thế giới đã ghi nhận được những sự cố kỳ lạ ở phía bắc nước Nga. Đến ngày nay, người ta có thể tìm thấy ở khu vực này có nhiều dạng phát triển kỳ lạ của động, thực vật.

Nhưng điều gì thực sự đã xảy ra ở Tunguska vào ngày hôm đó?. Nhân chứng gần nhất đứng cách trung tâm vụ nổ 40 km là những người chăn tuần lộc. Họ đang ngủ trong lều thì một nguồn năng lượng cực mạnh đã ném họ vào không trung. Một người đàn ông được tường thuật lại là đã chết, còn những người khác bị bất tỉnh. Khi tỉnh lại, họ thấy khu rừng xung quanh bị tàn phá và đang cháy âm ỉ. Những nhân chứng khác tại một khu thương mại ở Vanavara, cách vụ nổ khoảng 80 km về phía nam, kể rằng mình đã nhìn thấy bầu trời bị xé toạc ra lam hai, phần ở phía bắc bị bao phủ trong lửa.

Vụ nổ trên bầu trời phát ra bức xạ nhiệt tác động đến họ quá nóng đến nỗi họ cảm thấy như quần áo mình bị cháy. Nó ném họ bay lên không trung 6m, và khi định thần lại, một tiếng nổ khủng khiếp vang lên, sau đó có âm thanh giống như trận mưa đá đang rơi xuống mặt đất. Những nhấn chứng ở xa hơn cũng thấy tiết mục ấn tượng của hiện tượng này.

Cư dân ở những thị trấn hẻo lánh đã thấy một trái “banh lửa” khổng lồ với cái đuôi sang óng ánh bay ngang qua bầu trời ban mai. Nhiều người tin đây là sự mặc khải vĩ đại cuối cùng. Sibir, một tờ báo địa phương, đã tường thuật lại những gì được thấy từ làng Nizhne- Karelinsk, cách vụ nổ khoảng 320km: Người dân trong làng thấy một vật thể chiếu sang rực rỡ cùng với ánh sang trắng có màu xanh. Nó di chuyển theo đường thẳng về phía dưới khoảng 10 phút. Vật thể này có hình dạng giống tẩu thuốc. Bầu trời quang đãng, nhưng ở phía dưới chân trời nơi vật thể sang rực này được nhìn thấy, có một đám mây đen. Không khí rất nóng, khô và khi vật thể sang rực ấy đến gần mặt đất, nó dường như tan biến thành bụi cát; ở nơi nó xuất hiện, người ta thấy một đám mây khói đen khổng lồ và nghe một tiếng nổ vang trời, không giống như tiếng sấm, mà giống như tiếng đá rơi hay tiếng súng nổ. Tất cả các tòa nhà đều lắc lư, rung động, cùng lúc đó, một ngọn lửa xuất hiện xóe toạc đám mây. Những phụ nữ lớn tuổi trong làng khóc lóc, mọi người đều nghĩ rằng ngày tận thế đang đến gần.

Các quan chức của Nga không thể cử được bất kỳ người nào đến kiểm tra hiện tượng này cho đến tháng 3/1927, khi Leonid Kulik được viện khoa học Liên Bang Nga Chọn để tìm hiểu điều già đã xảy ra. Kulik đến khu vực này và thấy tất cả những hang cây đều bị đổ rạp trong một bán kính lớn. Anh chụp hình và khảo sát khu vực, nhưng không tìm thấy được bất kỳ mảnh vở hay mẫu thiên thạch nào cả. Có vẻ như thứ gây ra sự kiện phi thường này cũng tự bốc hơi. Sự thiếu vắng những tàn tích xác thực khiến cho người Nga hoang mang. Họ cảnh thấy rằng chỉ có những tảng đá khổng lồ ngoài không gian mới có thể gây ra những tác động đó. Sau vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản trong chiến tranh thế giới II, những tấm ảnh so sánh sự hoang tàn của Hiroshima và Nagasaki với khu vực gần tâm của vụ nổ Tunguska cho thấy nhiều điểm tương đồng. Lời kể của nhiều nhân chứng cũng củng cố them cho khả năng hiện tượng ở Nga là một vụ nổ hạt Nhân. Tuy nhiên, vào năm 1908, vũ khí hạt nhân không hề tồn tại, một vụ nổ hạt nhân sẽ tàn dư chất phóng xạ nhưng thứ này lại không để lại dấu vết gì, nên một số người giả thuyết rằng vụ nổ này bị gây ra bởi một đĩa bay của người ngoài hành tinh rơi xuống trái đất.
Phản vật chất
Gỉa thuyết này ngày càng bị phản đối mạnh mẽ, và được thay thế bởi một số hiện tượng phản vật chất hay một hố đen nổ tung trên bầu trời Siberia. Kiến thức về khoa học của chúng ta có thể giúp suy luận ra rằng vụ nổ này tương đương với một loại vũ khí hạt nhân với sức công phá 40 triệu tấn thuốc nổ. Nhưng giả thuyết của con người về nguyên nhân gây ra sự kiện phi thường này, dù nó có liên quan đến đĩa bay hay những sinh vật khác trong thiên Hà, cần phải có được sự hiểu biết mà ta vẫn chưa nắm bắt được.
Khối năng lượng Phản Vật Chất
(Note: về sau các nhà khao học cho rằng đây là một vụ nổ Anti- Matter phản vật chất, với sức mạnh vô song, nó có sức công phá gấp trăm lần Bom hạt nhân, phản vật chất cũng giống vật chất thông thường, ngoài việc chúng có điện tích trái dấu, thay vì chúng có các electron mang điện tích âm và Proton mang điện tích dương thì Phản vật chất có các electron mang điện tích dương Proton mang điện tích âm nên khi đó phản vật chất và vật chất thông thường gặp nhau chúng lập tức triệt tiêu nhau và giải phóng năng lượng với hiệu xuất 100%.)


Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…