Kiến Thức Cộng Đồng Người Việt Khắp Nơi

Tại Sao Không Thuyết Minh về Thành Phố Rome nổi tiếng Của ITALIA?

Nằm dọc theo mảnh đất trải dài trên bán đảo Địa Trung Hải hoa lệ là một thành phố có chiều dài lịch sử nổi tiếng thế giới, Rome – thủ đô của nước cộng hòa Italy đầy ấn tương. Đây là nơi khởi nguồn của Đế chế La Mã cổ đại, Với các Binh đoàn La mã hùng mạnh và từng là trung tâm văn hóa, chính trị và tôn giáo của nước Ý.

Rome là thành phố luôn dẫn đầu trong danh sách những nơi du lịch nổi tiếng nhất Âu Châu. Vậy điều gì đã khiến người ta gọi thủ đô của nước Ý là “thành phố vĩnh hằng”? Ưu điểm gì ở Rome khiến nó trở thành điểm du lịch thu hút nhất tại Âu Châu? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu những đặc điểm tuyệt vời khiến Rome nổi tiếng là một nơi đáng để đi du lịch.

Trước tiên là Yếu Tố Con người, Những công dân Italia gây ấn tượng cho bạn bởi nét quyến rũ, sự hiếu khách và cách ứng xử tinh tế. Dù bạn đang ở trong một khách sạn giá rẻ hay sang trọng, bạn vẫn luôn nhận được sự phục vụ tuyệt vời nhất. Thái độ thân thiện, mến khách và nhiệt tình của người dân nơi đây luôn khiến cho du khách cảm thấy họ lúc nào cũng được chào đón nồng nhiệt.

Ẩm thực ở Rome được biết đến như một trong những thành phố nổi tiếng nhất thế giới. Bạn có thể trải nghiệm giác thú vị khi khám phá những đặc sản của Ý hội tụ đầy đủ tại Rome: Pizza nóng hổi mang hương vị Naples, Spaghetti hải sản đậm đà hay Panna Cotta đặc trưng vùng Piedmont.

Bạn có thể dạo chơi một cách sản khoái ở những quảng trường ở Rome, đây là nơi luôn chật cứng người, một khu vực rộng lớn này chính là nét sinh hoạt chung của người bản xứ. Để trải nghiệm rõ nét nhất, bạn hãy thả hồn dạo bước trên những quảng trường nổi tiếng: Spanish Steps với những bậc thang mang dấu ấn Tây Ban Nha ngay tại La Mã, bên cạnh là Mignanelli nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo quan trọng, quảng trường Venezia gần đấu trường La Mã, hay Barberini với đài phun nước Trevi độc đáo.

Thành Rome với hàng trăm bảo tàng nhỏ bên trong Thành phố. Đây là nơi lưu giữ nguồn tri thức lịch sử, nghệ thuật, khoa học, quân sự, lịch sử tự nhiên, và vô số lĩnh vực khác của đế chế La Mã. Bạn có thể đến tham quan những bảo tàng nổi tiếng: Borghese với hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật bất hủ, Bảo tàng Quốc gia nơi lưu giữ nền văn minh Etruscan, hay bảo tàng nghệ thuật Palazzo Altemps với những bộ sưu tập vô giá.

Công dân Ý với niềm đam mê Cafe, Để thực sự cảm nhận được lối sống chậm và tinh tế của người Ý, hãy thử thưởng thức café trong một quán bất kỳ ở Rome và ngắm nhìn đường phố. Không giống như ở Việt Nam và nhiều nơi khác trên thế giới, người Ý không chỉ xem café là thức uống thư giãn hay văn hóa thông thường mà café gần như là một nghi thức, tín ngưỡng của họ. Espresso và Capuchino là hai trong nhiều loại café làm nên thương hiệu của người Ý.

Các bạn hẳn thường nghe rất nhiều về Tòa thánh Vatican đó là một quốc gia độc lập, nằm gọn trong lòng thành Rome. Tuy có diện tích của nó chỉ vỏn vẹn 0,44 km2 như một quốc gia nhỏ nhất thế giới, nhưng Vatican cũng có chính phủ, đài phát thanh, quân đội và thậm chí một tờ báo riêng. Là nơi cư ngụ của những Đức Giáo Hoàng, người đứng đầu giáo hội Công giáo La Mã, Vatican trở thành trung tâm tôn giáo quan trọng, quy tụ lượng khách hành hương và du lịch đông nhất thế giới.


Rome còn nổi tiếng với Đài phun nước Trevi Fountain được mệnh danh là “bản tình ca Rome”, các cặp tình nhân đến đây với hi vọng tìm được tình yêu vĩnh hằng.
Ảnh: Đài phun nước Trevi Fountain

Địa danh này cũng từng được Hollywood nhắc đến trong các tác phẩm kinh điển như “La Dolce Vita” hay “Three Coins in the Fountain”. Có một truyền thuyết mà mọi người vẫn lưu truyền cho đến nay, nếu thả một đồng xu xuống dòng suối ở đây, bạn chắc chắn sẽ quay lại Rome lần nữa.

Ngôi Đền Pantheon 2000 năm tuổi “ngôi đền của mọi vị thần”, nó được xây dựng với quy mô vượt trên mọi công trình kiến trúc, đền đài thời đó. Công trình này quy tụ mọi đỉnh cao tư duy, khoa học và kỹ thuật của La Mã cổ đại. Trên đỉnh mái vòm của đền có một lỗ thông duy nhất đưa ánh sáng vào bên trong, tạo ra không gian huyền bí, hoài niệm về một quá khứ huy hoàng đã qua.

Nói về khí hậu, Rome được miêu tả là “Vùng đất mặt trời”. Thời tiết ở đây không quá khắc nghiệt trong mùa đông và tương đối mát mẻ khi vào hè. Những thời điểm đẹp nhất để du lịch là tháng 6, 7, 8 khi ánh nắng tràn ngập, bầu trời trong xanh và ít mưa.

Cũng như rất nhiều thành phố khác ở Ý, cư dân Rome mang trong mình sự cuồng nhiệt và tình yêu bất tận với môn thể thao vua. Italia không chỉ là nơi sản sinh ra chiến thuật đá bóng Catenaccio trứ danh, mà còn là quê hương của những danh thủ bóng đá thế giới như Francesco Totti, Alessandro Nesta, Gianluigi Buffon, Roberto Baggio, Franco Baresi, Paolo Maldini,…

Đấu trường Vỹ đại Colosseum được xem như một trong bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, sẽ thật thiếu sót nếu đến Rome mà bỏ qua biểu tượng của thành phố này: đấu trường La Mã Colosseum. Đấu trường này ban đầu là một nơi linh thiêng để vinh danh các vị thần, nhưng các hoàng đế và giới quý tộc dần biến nó thành một nơi giải trí với những màn trình diễn đẫm máu. Đến Colosseum, bạn thật sự sẽ cảm nhận được tinh thần chiến đấu, niềm tự hào và những năm tháng vinh quang của đế chế La Mã còn đọng lại nơi đây.
Ảnh: Đấu trường Vỹ đại Colosseum 

Hàng ngàn năm lịch sử đầy ấn tượng của Rome là cả một kho tàng khảo cổ, kiến trúc và nghệ thuật, nó bảo tồn nhiều giá trị quan trọng của nền văn minh nhân loại. Rome còn thu hút khách du lịch nhờ vào những yếu tố con người, ẩm thực, văn hóa đậm chất Ý, khí hậu ôn hòa và nét quyến rũ của vẻ cổ kính xen giữa nhịp sống hiện đại. Hãy lên kế hoạch cho chuyến du lịch của bạn ngay khi có dịp đến Ý, để khám phá và tận hưởng trọn vẹn những điều tuyệt vời ở thành phố này.


Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Tìm thấy mộ của Harry Potter người đã chết ở Israel

 Zcomity  (06/9/2018): Trong một nghĩa trang ở Ramla nước Anh, một người Israel nằm đó là Harry Potter thật sự.

Chúng ta từng biết về nhân vật cậu bé phù thủy lừng danh Harry Potter trên điện ảnh Hollywood. tuy nhiên có một Harry Potter thực sự Một binh sĩ tên Harry Potter của Trung đoàn Worcestershire Anh Quốc đã thiệt mạng ngày 22 tháng 7 năm 1938, trong một trận hỏa hoạn ở ngoại ô Hebron trên bờ phía tây của sông Jordan. Cuộc tấn công là một phần của ''cuộc nổi dậy Ả Rập '', tại thời điểm nó kết thúc vào tháng 9 năm 1939, có hơn 5.000 người Ả Rập, 300 người Do Thái, và 262 người Anh đã bị giết và ít nhất 15.000 người Ả Rập bị thương.

Một thời gian ngắn trước khi Harry Potter bị giết, ông đã viết bức thư dưới đây cho mẹ mình, điều đáng buồn đã đến ngày giỗ sau khi gia đình được kể về cái chết của ông.
nội dung bức thư Harry gửi cho mẹ mình trước khi anh qua đời như sau:
"Mẹ thân yêu,
Trong câu trả lời cho lá thư của mẹ, con vẫn đang rất ổn. Con hy vọng sẽ được về nhà cho kịp Giáng sinh. Nếu con không gặp chút sự kém may mắn nào.
Hiện tại con đang ở một nơi mà chúng con gọi là The Pumpet. Thời điểm này chúng con không có nhiều việc phải làm và con hy vọng mẹ bình an. Con hy vọng bố vẫn đang làm việc. Nói với Ken (em trai sáu tuổi của Harry Potter) Con không quên chiếc xe của cậu ấy. Con hy vọng Alice (chị gái của anh) bình an. Gần đây chúng con đã lặn lội rất nhiều. mẹ có lẽ đã đọc các bài báo. Con không khoe khoang nhưng lắng nghe những tin tức trên sóng vô tuyến và lắng nghe những gì chúng con làm trong Worcestershires (một hạt thành thị của Anh) đã và đang làm. Vâng, con nghĩ rằng đó là tất cả cho lúc này đây.
Cheerio - Crash Harry. ”

Theo Ủy ban Liên bang Graves, 20 người tên Harry Potters đã chết trên toàn thế giới. Bạn có thể tìm thấy những ngôi mộ với cái tên như vậy ở cả những cồn cát của Libya và ở trung tâm châu Âu. Chỉ có những người đại diện của Ủy ban biết về những người lính đã ngã xuống cho đến thời điểm gần đây.
Ảnh: Mộ binh sĩ Harry Potter thuộc Trung đoàn Worcestershire Anh

Một vài năm trước, một nhiếp ảnh gia trẻ người Israel chụp ảnh các nghĩa trang, đã đặt một bức ảnh về Harry Potter này trên Internet. Kể từ đó, nghĩa trang quân sự khiêm tốn này ở Ramla đã trải qua một kỷ lục về dòng dõi Potter huyền thoại của mỗi năm.

Nghĩa địa đã trở nên rất phổ biến, đó là một "phải xem" trên nhiều trang web du lịch của Israel

Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Tác động của cơn giận dữ và bạn kiểm soát nó như thế nào?

 Zcomity  (05/02/2018):Đôi khi mọi người thường mất bình tĩnh và có thể dẫn đến một hành động bạo lực và rất xấu. Cá nhân tôi cũng khó kiểm soát khi cơn giận dữ quá lớn khiến tôi mất bình tĩnh. Tôi tin rằng không thực sự cần thiết phải mất sự bình tĩnh của mình vì nó chỉ làm cho tình huống sau đó sẽ tồi tệ hơn nhiều. Nhưng chắc chắn là vẫn còn thời gian khi tôi không thể kiểm soát bản thân mình và đấm vào người khác.

             Khi tôi bị mất bình tĩnh phần lớn là vì những thứ người khác làm hoặc nói. Tôi không thể chịu nổi khi ai đó thoái mạ người khác vì bất cứ lý do gì. Tôi tin rằng có đủ kiểu tiêu cực trong thế giới này mà chẳng cần ai đó phải tự dẫm lên nhau. Họ thực hiện những điều tồi tệ để làm giảm sự tự tin của người đó và nó có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là nạn nhân bị trầm cảm hoặc thậm chí tự sát. Một điều khiến tôi mất bình tĩnh là khi ai đó mất bình tĩnh nhằm vào tôi.
             Tôi trở nên rất điên và dữ dội khi tôi mất bình tĩnh. Đôi khi tôi quăng ném hoặc đập vỡ thứ gì đó hướng tới một người cụ thể. Thường có một số âm thanh la hét và tôi trở nên rất nóng và tôi không thể kiểm soát bản thân mình. Nhưng những gì tôi thường làm là đấm những thứ như bức tường và các vật thể bất động.
             Tôi đã thử nhiều phương pháp để cố gắng giữ bình tĩnh khi tôi bị mất kiểm soát. Tôi đã cố gắng đếm tới mười, gõ trán nhiều hơn 25 lần, chỉ cần đi bộ và thậm chí cố gắng làm cho mình cười. Nhưng những phương pháp này thường không hiệu quả với tôi vì mất kiểm soát và tôi thực sự không muốn bình tĩnh.
             Đến khi sự bình tĩnh trở lại tôi có thể có nhiều cảm xúc khác nhau tùy thuộc vào người khiến tôi đã mất bình tĩnh và tại sao và như thế nào tôi có thái độ đó. Thông thường khi tôi phá vỡ những điều tôi cảm thấy thực sự tồi tệ và tôi cố gắng bù đắp cho những gì tôi đã làm. Khi tôi la hét mẹ tôi, tôi luôn cảm thấy xấu vì những gì mẹ tôi đã làm nhưng không đáng bị hét lên. Nhưng sau đó lần thứ ...



Nguyễn Hoàng Thế Anh
Xem chi tiết…

Nghị Luận Xã Hội: Đọc chuyện Tấm Cám Suy Nghĩ Về cái Thiện và ác giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay

 Zcomity  (01/02/2018):
Trong một xã cộng đồng có rất nhiều người cùng sinh sống và phát triển, do mỗi người có những nhận thức và môi trường sống khác nhau nên quyền lợi không giống nhau đã tạo ra cái Thiện và ác giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội. Qua câu chuyện cổ tíchTấm cám, mặc dù có khác biệt về bối cảnh thời đại nhưng giá trị giáo dục con người về nhân cách sống đã cho thấy cuộc đấu tranh giữa thiện và cái ác luôn có một kết cuộc tốt cho Những người Lương thiện và ngược lại cái ác luôn phải nhận hậu quả.

- Trong xã hội xưa: Nạn nhân của cái xấu thường là những người có hoàn cảnh đặc biệt: cô bé mồ côi, những người có ngoại hình xấu xí nhưng có tấm lòng nhân hậu. Truyện Tấm Cám cũng ko ngoại lệ, Tấm là 1 cô bé từ nhỏ đã phải chịu sự thiệt thòi vì mất mẹ từ nhỏ, người cha lấy vợ lẽ đã có một người con riêng ....

   + Cái ác luôn tàn nhẫn, nhiều thủ đoạn, đã chà đạp lên cái thiện như thế nào? (Mẹ con Cám giết Tấm mấy lần? Vì sao?)



   + Cái thiện không đơn độc mà luôn được sự giúp đỡ của mọi người. (Tấm được Bụt giúp đỡ)

   + Cái thiện đã vùng lên đấu tranh với cái ác ra sao? (Từ thụ động chỉ biết trông chờ vào Bụt, đến chủ động, Tấm tự đấu tranh giành hạnh phúc; phản ứng từ yếu ớt đến mạnh mẽ, quyết liệt như thế nào?)

- Trong xã hội nay:

   + Cái thiện và ác vẫn luôn song hành, bởi cuộc đời luôn có những bất công.

   + Cái ác càng nhiều thủ đoạn, càng thâm hiểm hơn.

   + Cái thiện phải xây dựng được vị trí xã hội vững chắc, lập trường vững vàng, phải đoàn kết để chống cái ác.

--> Dù là xã hội xưa hay nay thì phần thắng cuối cùng cũng nghiêng về cái THIỆN, và cái ÁC luôn bị tiêu diệt. Những người sống ác độc luôn phải chịu những hậu quả nặng nề.

- Quy luật: "Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo"



Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

Thuyết Minh Danh Lam Thắng Cảnh Đảo Ngọc Phú Quốc

 Zcomity  (28/02/2018): Đảo Phú Quốc của Việt Nam là một trong những nơi Lý tưởng nhất để khám phá, ngoài nét văn hóa truyền thống của người dân bản địa, nơi đây Phong cảnh Hữu tình trong ánh nắng chiều chạng vạng buổi hoàn hôn mà bạn có thể chứng kiến trong nhịp thở của gió ngoài những bãi biển cát trắng thơ mộng.

Đảo ngọc Phú Quốc từng là nơi Sinh sống của Hoàng tộc Vua Gia Long trước đây nên có Dinh cậu, Dinh bà cùng những này lễ truyền thống cúng Dinh bà Hàng năm vẫn được cư dân địa phương tiến hành nhộn nhịp, đây là thiên đường nhiệt đới yên bình có núi vách đá bên cạnh là những bải biển tuyệt đẹp như: Bãi biển Ông Lang, Bãi Sao, Long Beach tất cả đều trôi dạt trong vùng nước màu ngọc lam ấm áp ở Vịnh Thái Lan, cách đất liền 50km từ đất liền Việt Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 30 phút bay. Du khách Phương Tây trải nghiệm chuyến đi của họ trên những chiếc xe Motobike du ngoạn khắp đảo.

Hằng năm mùa khách du lịch cao điểm từ tháng 11 đến tháng 3, Phú Quốc đang trở nên nổi tiếng với những bãi biển tuyệt đẹp, môi trường tự nhiên hoang sơ, bầu không khí bình dị và thoải mái, những người dân địa phương thân thiện, những chuyến đi lặn biển tuyệt vời.
Phần lớn đảo Phú Quốc được dành riêng cho Vườn Quốc gia và môi trường biển được bảo vệ, mang đến một trải nghiệm đáng nhớ với nhiều hoạt động thú vị và những nơi thú vị để bạn viếng thăm giúp bạn và gia đình vui chơi trong suốt thời gian lưu trú.

Trước đây, Phú Quốc là một điểm đến gần như không được biết nhiều ở Việt Nam. Khách du lịch Quốc tế và Việt Nam cũng vừa mới phát hiện ra Viên ngọc Phú Quốc. Chẳng có gì khó hiểu vì sao nhiều du khách tự hào về vẻ đẹp tự nhiên lộng lẫy và những bãi biển xa xôi hẻo lánh của hòn đảo nhiệt đới ngoạn mục này.

Đảo Phú Quốc nằm ở vịnh Thái Lan, có tổng diện tích khoảng 580 km², diện tích tương tự như những nơi nổi tiếng khác ở châu Á như Singapore, Bangkok, Hồng Kông và Kuala Lumpur. Nó gần với Campuchia hơn so với thị xã Hà Tiên gần đất liền ở tỉnh Kiên Giang, cách 46 km.

Mặc dù Phú Quốc là một điểm đến mới cho những kỳ nghỉ, trong năm 2014, có khoảng 500.000 đến 600.000 du khách đã đến đảo, trong đó 40% là du khách nước ngoài. Sân bay Quốc tế mới với sức tải 2.65 triệu lượt khách được khai trương vào tháng 12 năm 2012 đã chứng kiến sự xuất hiện của 70.000 du khách đến hòn đảo này mỗi tháng.

Phú Quốc được thiên nhiên ưu đãi với môi trường tự nhiên thuận lợi như rừng nguyên sinh trên 37.000 ha, bãi biển cát trắng, các vườn san hô ngoài khơi, các loài động vật hoang dã, do vậy bãi biễn trải dài, cho thấy Phú Quốc là một hòn đảo có tiềm năng du lịch to lớn. Chính phủ đã tiến hành một kế hoạch tổng thể nhằm phát triển đảo thành một điểm du lịch sinh thái chất lượng cao vào năm 2020. Khi dòng tiền đầu tư bắt đầu chảy vào Việt Nam, đảo này sẽ dần dần phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng. Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra những lựa chọn tốt nhất cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để cho phép phát triển đảo, thiết lập trung tâm thương mại và du lịch tiêu chuẩn Quốc tế vào năm 2020.

Trong thời gian này, khách du lịch đến với Phú Quốc vẫn có thể tận hưởng những trải nghiệm bằng cách tìm kiếm một bãi biển hẻo lánh với những cây dừa và nước biển trong xanh.


Xem thêm: 

>> Tại Sao Không Thuyết Minh về Thành Phố Rome Của ITALIA?



Bài Viết của: Nguyễn Hoàng Thế Anh
www.Zcomity.com
Xem chi tiết…

HOÀNG HẠC LÂU QUA GÓC NHÌN CỦA THI NHÂN NGÀY NAY..

Khi nói đến thơ Đường chúng ta nghĩ đến hai thánh thi Lý Bạch và Đỗ Phủ, nhưng qua bài thơ Hoàng Hạc Lâu thì thi sĩ Thôi Hiệu đã làm cho Lý Bạch buông lời thán phục: “có chỗ nào để ta viết nữa sao? Hoàng Hạc Lâu đã đạt đỉnh mà Thôi Hiệu làm thơ tả hết rồi”…

Bốn câu đầu, nhà thơ đã phá vỡ khuôn khổ cũ thơ luật một cách tài tình, nhưng cứ thế mà phá vỡ tiếp thì bài thơ không còn là thơ luật nữa, mà trở lại là một bài thơ bảy chữ cổ. Nhung nhà thơ đã kịp thời quay lại với khuôn khổ, để bài thơ không trở lại thể thơ cổ và vẫn là một bài thơ luật mới mẻ và kỳ lạ hết sức tài tình.

Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là một bài thơ vịnh cảnh tuyệt tác. Theo Tân Văn Phong đời Nguyên kể lại trong sách Đường Tài tử truyện (Truyện tài tử đời Đường) rằng Lý Bạch lên lầu Hạc vàng định làm thơ, nhưng thấy bài thơ Thôi Hiệu đã qua hay nên không làm nữa mà nói rằng: “Nhân tiền hữu cảnh đạo bất đắc. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”. (Cảnh bày trước mắt phổ không được, Thôi Hiệu làm thơ tả hết rồi). Câu chuyện này là truyền thuyết hay hư cấu của người sau, cũng chưa chắc là có thực. Nhưng trong thơ Lý Bạch đã có hai bài chịu ảnh hưởng của bài thơ này. Đó là bài Anh vũ châu (bãi Vẹt) và bài “Đăng Kim lăng Phượng Hoàng đài” (Lên lầu Phượng Hoàng ở Kim lăng). Từ đó ta biết giá trị nghệ thuật và ảnh hưởng to lớn của bài thơ này. Nghiêm Vũ, đời Nam Tống, đã nói trong sách “Thương lang thi thoại” là ”Đường nhân thất ngôn luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng hạc lâu cư đệ nhất” (Thơ luật bảy chữ đời Đường, phải xếp bài Hoàng hạcLâu của Thôi Hiệu là hàng thứ nhất). Từ đó bài Hoàng hạc lâu càng trở nên nổi tiếng. Lầu Hạc dựng trên mỏm đá Hạc vàng bên sông Trường Giang nên gọi là lầu Hạc vàng. Sách Hoàn Vũ ký ghi là lầu Hạc vàng. Sách Tế hai Chí ghi là Vương Tử An thành tiên đã cưỡi hạc vàng từ trên lầu mà hạ bút, mượn truyền thuyết mà làm thơ. Chuyện ngày xưa tiên cưỡi hạc vàng bay đi là chuyện vu vơ. Nhưng rồi hạc vàng ra đi không còn trở lại để lầu Hạc vàng trống trải bên sông, làm cho câu chuyện lại thành không. Hạc vàng bay đi rồi, năm năm trông lên trời chỉ thấy mây trắng trôi, gây cho ta một nỗi cảm khoái, từ chuyện tiên hạc trên trời nghĩ đến chuyên trên đời. Đó là một nỗi nhớ cảm khoái mà những ai trên lầu trông cảnh mây trời sông nước đời đời vẫn có, đã được ngọn bút tài tình của nhàthơ làm cho hiện rõ, để sống mãi với đời.


Người xưa cho rằng: “Văn dĩ khí vi chủ” (thơ lấy hơi làm chính). Đọc bốn câu đầu ta thấy như nhà thơ phóng bút một hơi mà thành. Mạch thơ cuồn cuộn như nước chảy mây tuôn, cuốn hút người đọc một cách tự nhiên. Lặp chữ, trùng ý là điều tối kỵ trong thơ cũ, thế mà nhà thơ đã ba lần dùng lại hai chữ hạc vàng, nhưng mạch thơ dồn dập tự nhiên, làm cho người đọc một hơi đọc hết không cảm thấy sự trùng lặp gượng ép nào. Thơ luật bảy chữ có luật niêm văn chặt chẽ. Nhưng như Tào Tuyết Cần đã mượn lời Lâm Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng mà nói: “Nhược thị quả hữu liều kỳ cú, liên bằng trắc hư thực bất đối đô sử đắc đích”. (Nếu quả như có câu thơ lạ, thì không cần bằng trắc, hư thực, không đối cũng đều được). Bốn câu đầu của bài thơ quả là đã bất chấp niêm luật và đối của thơ luật. Nhà thơ đã theo nguyên tắc làm thơ trước hết lập ý và không để việc gò chữ mà hại đến ý, cho nên đã viết nên những câu thơ lạ hết sức tài tình ít thấy trong thơ luật. Sách Đường thi biệt tài của Thẩm Đức Tiềm đã xác nhận “ỷ đắc tượng tiên thần hành ngữ ngoại, tung bút tả khứ toại thiên cổ chi kỳ). (Dựng ý trước hình ẩn thần ngoài chữ, phóng bút mà viết nên những câu lạ nghìn đời).

Bốn câu đầu, nhà thơ đã phá vỡ khuôn khổ cũ thơ luật một cách tài tình, nhưng cứ thế mà phá vỡ tiếp thì bài thơ không còn là thơ luật nữa, mà trở lại là một bài thơ bảy chữ cổ. Nhung nhà thơ đã kịp thời quay lại với khuôn khổ, để bài thơ không trở lại thể thơ cổ và vẫn là một bài thơ luật mới mẻ và kỳ lạ hết sức tài tình. Bốn câu cuối giữ đúng luật bằng trắc và đối. Nhưng nhìn vào bài thơ ta thấy như bài thơ được chia làm hai nửa, mỗi nửa một thể thống nhất để bài thơ trở thành luật. Nhà thơ đã giữ đúng cấu trúc của bài thơ luật. Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào cấu trúc của bài thơ để hiểu rõ nội dung của bài thơ và nghệ thuật chuyển ý của nhà thơ.

Hai câu đầu là hai câu mở đề (Khai, khởi đế)
Hạc vàng, người xưa đã cưỡiđi
Lầu Hạc vàng trơ lại đất này.
Nhà thơ bắt đầu tả lầu Hạc vàng bằng một truyền thuyết, vừa nói về cội nguồn xa xưa của lầu với một sắc thái huyền thoại thần tiên thiêng liêng và sức sống của lầu đã bền bỉ chịu đựng và chiến thắng mọi sự hủy hoại của thời gian mà tồn tại đến bây giờ nhưng với một thực trạng đáng buồn, trống trải cô quạnh. Hai câu ba tư là hai câu thừa, cũng gọi là thực, đi vào mô tả hoặc giải thích đầu đề. Dương Tải đời Nguyên trong sách Thi pháp gia số đã nêu ra một yêu cầu cho hai câu thừa là: “Thủ liên yếu tiếp phá đề (thủ liên) yếu như ly long chi châu, bão nhi bất thoát”. Hai vế này phải tiếp theo ngay hai vế phá đề (hai vế đầu) như rồng đen ngậm ngọc, ngậm chặt không rời. Nhà thơ đã chuyển hai câu ba, tư theo đúng yêu cầu đó, tả những điều trông thấy trên lầu mà không xa rời khung cảnh và không khí của truyền thuyết.

Một đi, Hạc vàng không trở lại,
Ngàn năm mây trắng vẫn bay bay.
Từ truyền thuyết hư vô trở lại với tòa lầu trống trơ, từ tòa lầu trống trơ nhìn lên trời thẳm, nhìn lên hư vô, cánh hạc vàng vẫn là truyền thuyết xa xưa không còn thấy được, nên lại trở về với thực tại, với những vầng mây trắng vẫn nằm trôi hờ hững: Cây in sông tạnh Hán Dương đó Cỏ mịn bãi thơm Anh Vũ đây.

Hai câu năm, sáu là hai câu chuyển, cũng có lúc là luận, nhưng ở đây là chuyển tiếp ý thơ, Dương Tải liên tiếp yêu cầu “Dữ tiền liên chi ỷ tương lai yếu biến hóa, như tật lôi, phá sơn, quan giả kinh ngạc” (Phải khác ý với hai vế trên, phải biến hóa, như tiếng sét phá núi làm cho người đọc phải ngạc nhiên). Nhà thơ đột nhiên kéo ta từ cõi mơ tưởng mông lung về với cõi thực, với những sông bãi, cỏ cây, phục sẵn một ý ngầm khơi gợi nỗi nhớ. Mấy chữ “Phương thảo thê thê” là lấy từ bài Chiêu ẩn sĩ trong sở từ “Vương tôn du hê bất quy, xuân thảo sinh hề thê thê”. (Chàng đi chơi chừ không về, cỏ xuân mọc chừ mượt mà).

Hai câu cuối là câu hợp, thuận theo ý thơ trên mà đưa bài thơ vào kết cục.

Ngày hết, quê nhà đâu ấy nhỉ,
Trên sông khói sóng não người thay,
Cảnh hoàng hôn vốn gợi nỗi nhớ nhà, lại thêm khói sóng mịt mờ dào dạt trên sông làm ai mà chẳng não lòng. Rõ ràng nghệ thuật điêu luyện tài tình đã đưa nhà thơ đến thành công viết nên bài thơ tuyệt tác bậc nhất một thời chói lọi thơ luật Đường, sống mãi với thời gian.

Ngày nay dân số của Trung Hoa nói riêng và Á châu nói chung hơn hai tỷ người, nhưng để tìm những vần thơ cả những thi nhân như Thôi Hiệu, Lý Bạch và Đỗ Phủ chắc khó hơn bay lên cung trăng thăm chị Hằng. Với những tuyệt tác như Hoàng Hạc Lâu ta có thể nói thời Đường, là thời đẹp nhất, thịnh nhất trong nền văn chương của Trung Hoa cho đến ngày nay…
Xem chi tiết…

Tìm Quên Sân Hận : Một dạng tâm lý tiêu cực tồn tại tiềm ẩn trong mỗi con người

Sân hận là một dạng tâm lý tiêu cực tồn tại tiềm ẩn trong mỗi con người, thường sinh khởi, bộc phát mỗi khi gặp điều kiện nhân duyên thích hợp.
Đức Phật xem sân hận là một loại độc tố có khả năng tàn phá tâm hồn và thể xác con người không chỉ trong đời này mà cả những đời sau. Trong kinh Đức Phật thường gọi sân cùng với tham, si là ba độc. Đức Phật còn ví sân như lửa dữ, như giặc cướp, như rắn độc: “Sân hận còn hơn lửa dữ, thường phải đề phòng không cho nó xâm nhập. Giặc cướp công đức không gì hơn giận dữ… Nếu trong tâm có những con rắn độc tham, sân, si thì phải mau trừ bỏ, nếu không sẽ bị chúng làm hại” (Kinh Di giáo).

Đức Phật xem sân hận là một loại độc tố có khả năng tàn phá tâm hồn
và thể xác con người không chỉ trong đời này mà cả những đời sau.

Lòng sân hận chẳng những làm cho tự thân bị bức bách, khổ não mà còn mang lại sự bất an cho tha nhân và xã hội. Đối với bản thân, người ôm lòng sân hận dễ gây lầm lỗi, tạo những nghiệp bất thiện làm nhân khổ cho đời này và đời sau. Khi cơn giận nổi lên, người ta không làm chủ được cảm xúc, không kiểm soát được suy nghĩ, hành động, lời nói, từ đó dễ tạo ra những nghiệp bất thiện. Lòng sân hận che mờ tâm trí khiến cho con người không nhận ra bản chất của sự việc, không có khả năng xử lý các tình huống gặp phải một cách tích cực, đúng đắn có lợi cho mình và người. Lòng sân hận khiến cho con người không có được cảm xúc an lạc hạnh phúc, cuộc sống mất đi niềm vui, ý nghĩa.

Theo Duy thức học, sân là một trong 6 căn bản phiền não: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Bởi đây là phiền não gốc rễ ăn sâu trong tâm thức con người nên gọi là căn bản phiền não. Sân thuộc loại câu sinh phiền não, tức phiền não xuất hiện cùng lúc với con người (câu sinh-cùng sinh ra). Có nghĩa là khi sinh ra, trong tâm thức con người đã có loại phiền não này.

Theo thuyết A-lại-da duyên khởi thì sân cũng như các pháp khác đều do nhân duyên mà sinh khởi. Khi gặp điều kiện, nhân duyên thích hợp thì các bản hữu chủng tử sân hận (hạt giống sân có sẵn do đã tích tập nhiều đời) trong tâm thức sẽ sinh khởi, càng huân tập nhiều hạt giống sân hận thì chúng càng được nuôi dưỡng, tiếp sức để có điều kiện sinh khởi. Nếu các hạt giống sân hận thường xuyên được gieo trồng, tưới tẩm, chúng sẽ trở thành tập khí (thói quen), những tập khí này tạo nên một tính cách, cá tính con người: nóng giận, đầy sân hận, cộc cằn, thô lỗ, thích bạo lực, manh động.

Sân hận có nhiều trạng thái, mức độ và biểu hiện khác nhau, ví dụ như: bực tức, giận hờn, nổi nóng, oán hận, căm thù… có khi biểu hiện qua nét mặt (nhíu mày, nhăn mặt, trợn mắt, nghiến răng…), thái độ, lời nói (la lối, quát tháo, gào thét, dọa nạt…), cử chỉ, hành động (quăng ném đồ đạc, hành hạ, giết chóc…), nhưng cũng có khi lại không biểu hiện ra mà được giữ kín trong lòng.

Một số điều kiện, nhân duyên làm cho sân sinh khởi như: căng thẳng, mệt nhọc, đói khát, đau bệnh, bị khiêu khích, bị oan ức, bị làm tổn thương tinh thần hoặc thể xác, quyền lợi bị xâm phạm, danh dự bị tổn thương, gặp cảnh bức ngặt không như ý, tham vọng bị cản trở, không được thỏa mãn v.v…

Về phương diện sức khỏe, khi tức giận, ngay lập tức cơ thể tăng tiết adrenalin làm tim đập nhanh và tăng huyết áp, hô hấp không bình thường. Nếu tâm trạng thường xuyên căng thẳng thì các tuyến trong cơ thể sẽ hoạt động sai lệch, dẫn đến dễ mắc các bệnh về tim mạch, tiêu hóa. Theo y học phương Đông, bệnh tật do thất tình (7 loại tâm lý): hỷ, nộ, ái, ố, bi, kinh, khủng (hay hỷ, nộ, ái, ố, ai, cụ, dục) mà sinh ra. Thất tình làm tổn thương tinh thần, làm mất căn bằng âm dương là nguyên nhân chính sinh ra bệnh tật. Trong đó, nộ (nổi giận) chính là sân. Đông y cũng cho biết thêm: tức giận hại gan, mừng quá hại tim, lo âu hại tỳ, bi thương hại phổi, hoảng sợ hại thận… Trong lĩnh vực tâm lý, sân hận có thể dẫn đến triệu chứng trầm cảm, sầu não, u uất, chán chường, tự hủy hoại bản thân…

Sân hận có tính lây lan như một căn bệnh truyền nhiễm. Sống trong môi trường sân hận, không khí căng thẳng, nặng nề, nó có thể từ người này lây lan sang người khác. Một người mang tâm trạng sân hận, đang tức giận, bực bội sẽ khiến cho những người xung quanh cũng cảm thấy ngột ngạt và căng thẳng, bực bội theo. Một người nổi nóng có thể làm người khác nổi nóng theo. Lòng sân hận giống như một ngọn lửa, nó có thể cháy lan ra khắp nơi.

Theo tâm lý học, có hai cách giải quyết tức giận: một là kiềm nén, hai là cứ để nó bộc phát ra. Kiềm nén sự tức giận sẽ gây ra những hAậu quả không tốt cho sức khỏe, do đó người ta khuyến cáo nên sử dụng cách thứ hai là để cho sự tức giận bộc phát. Dĩ nhiên là không thể để sự tức giận làm tổn hại bản thân và người khác, người ta trút giận lên đồ vật để giải tỏa tâm lý căng thẳng bực bội của mình. Người ta ném vỡ những cái đĩa, đánh vào bao cát, đánh vào gối hoặc quay mặt vào tường mà la hét cho hả giận.

Theo Phật giáo, cả hai cách trên đều không phải là phương pháp hay. Bởi vì sự kiềm nén cơn giận ở trong lòng chẳng những có hại cho sức khỏe, mà đó còn là một hình thức nuôi dưỡng cơn giận, giữ cơn giận ở dạng tiềm ẩn, đến một lúc nào đó khi gặp điều kiện thích hợp, khi không thể kiềm chế được nữa thì cơn giận bộc phát ra, thậm chí mức độ càng đáng sợ hơn cơn giận lúc ban đầu. Cách để cho cơn giận bộc phát (la hét, đánh đập súc vật, quăng ném đồ đạc) có thể giải tỏa phần nào sự tức giận nhưng không triệt để làm tiêu tan cơn giận.
St.
Xem chi tiết…

Văn lớp Bốn: Tả chú chó Cưng trong nhà em

Tất cả chúng ta đều biết, chó là loài động vật thân thiện với con người, giống như một người thân trong gia đình, chó giúp chủ bảo vệ nhà, bảo vệ vật nuôi, bảo vệ chủ, ngoài ra nó còn đùa vui giúp mọi người xả strees. Chó cũng góp phần tạo nên lối sống văn hóa con của người Việt.
Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về chú chó yêu của tớ nhé.

Đầu năm em học lớp Bốn, bố mua tặng em một Chú chó nhỏ đáng yêu, em đặt tên cho nó là Milo.
Chú có bộ lôngmàu vàng bóng, hai cái tai như hai lá mít, đôi mắt tròn như hai quả bi, khi trời lạnh nó hay bị cảm cúm. Mỗi khi em học bài nó thường lại liếm chân em, mỗi khi có thời gian rảnh rỗi em và milo thường hay nô đùa trước sân nhà, mỗi khi em đi học về em thường mang cho milo một cây xúc xích, milo nhìn em như muốn nói lời cảm ơn, em quý Milo như người thân trong nhà. Tuy nhiên có một hôm chuyện không may đã xảy đến, Milo đã gặp nạn khi băng qua đường cố nhặt quả banh cho em, em đã khóc rất nhiều.

Đã hai năm trôi qua kể từ khi chuyện đáng buồn xảy ra với Milo, em cảm thấy mình có lỗi với nó, đó là một sự mất mát không mong muốn. Điều này khiến em luôn đối xử tốt với những thú cưng khác như một sự bù đắp mà em dành cho Milo. Và những kỷ niệm vui về chú chó ngoan sẽ còn mãi bên em.


 Bài viết của: LÝ GIA BẢO gửi về cho Zcomity.

Xem thêm: Quái vật nguy hiểm trên sông Congo ở Phi Châu
Xem chi tiết…

Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học


a. Các dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Các vấn đề có ý nghĩa được đưa ra trong tác phẩm văn học được đưa ra từ hai nguồn chính:


- Từ các tác phẩm văn học đã được học trong chương trình.


- Từ các mẩu truyện nhỏ hoặc những văn bản ngắn gọn học sinh có thể chưa được học nhưng tương đối dễ tiếp nhận.

Ví dụ:

Đề 1. Triết lí vê việc đỗ, trượt trong thi cử của thân phụ Đặng Huy Trứ (văn bản Cha tôi trong Ngữ văn 11 Nâng cao) gợi cho anh chị suy nghĩ gì về việc thi cử của bản thân? Đề 2. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nhân vật Trương Ba nói: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”. Câu nói trên để lại cho anh (chị) những suy nghĩ gì?

Đề 3. Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, nghĩ về danh và thực trong xã hội chúng ta ngày nay.

Đề 4. Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin và những suy nghĩ của anh (chị) về một tình yêu tuyệt đẹp.

Đề 5. Suy nghĩ của anh (chị) từ câu chuyện sau:

Anh dừng lại tiệm bán hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện. Mẹ anh sống cách chỗ anh khoảng 300 kilomet. Khi bước ra khỏi xe anh thấy một bé gái đang đứng khóc trên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

- Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu - nó khóc nức nở - nhưng cháu chỉ có bảy mươi lăm xu trong khi giá hoa hồng lên đến hai đô la.

Anh mỉm cười và nói với nó:


- Đến đây, chú sẽ mua cho cháu.

Anh liền mua hoa cho cô bé và đặt một bó hồng để gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh và trả lời

- Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ ngôi mộ và nói:

- Đây là nhà của mẹ cháu.

Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ.

Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ mua hoa vừa rồi và mua một bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó, anh đã lái một mạch 300 kilomet về nhà mẹ anh để trao tận tay bà bó hoa.

Để làm tốt dạng bài này, học sinh trước hết phải đọc kĩ văn bản, xác định đúng vấn đề nghị luận, từ đó vận dụng kiến thức và sự hiểu biết về đời sống xã hội, những kinh nghiệm và sự trải nghiệm của chinh bản thân để làm bài. Bài viết có thể được lập với hai phần lớn:

- Nêu và phân tích ngắn gọn vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.


- Phát biểu nhứng suy nghĩ và tình cảm của mình về vấn đề đó nhân đọc tác phẩm.

b. Cách lập dàn ý

Đảm bảo bố cục 3 phần:
- Mở bài:

+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận.

+ Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc.

- Thân bài:

+ Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học, phần này người viết phải vận dụng kĩ năng đọc - hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm? Cần nhớ, tác phẩm văn học chỉ là cái cớ để nhân ý kiến đó mà bàn bạc, nghị luận về vấn đề xã hội, vì thế không nên đi quá sâu vào việc phân tích tác phẩm mà chủ yếu rút ra ý nghĩa khái quát để bàn bạc vấn đề có ý nghĩa xã hội.

+ Từ vấn đề được rút ra, người viết tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy. Học sinh nên tham khảo lại cách thức làm bài nghị luận xã hội (về tư tưởng đạo lí, về một hiện tượng của đời sống) để làm tốt phần này.

Kết bài:-

+ Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm.


+ Từ vấn đề được bàn luận rút ra bài học cho bản thân.
Xem chi tiết…

Luyện văn " Mẫu bài viết về Tệ Nạn Xã Hội "

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, bên cạnh những việc làm, thói quen sống tốt vẫn còn có những thói quen chưa tốt mà không ai có thể bỏ được. Một trong những vấn đề đáng lo ngại đó là các tệ nạn xã hội. Tệ nạn xã hội có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên. Các loại tệ nạn xã hội này có thể là nạn cờ bạc, nạn hút thuốc lá, nạn ma túy, các văn hóa phẩm độc hại hoặc những hành vi, việc làm trái pháp luật khác,... Nếu chúng ta không biết giữ gìn bản thân thì sẽ rất dễ bị sa vào những tệ nạn xã hội đó và khó lòng mà thoát ra được. Vậy để tránh xa với các tệ nạn đó, chúng ta phải kiên quyết nói 'không' với tệ nạn xã hội.
Ảnh: Minh họa

Tệ nạn xã hội là các hiện tượng gây nhức nhối cho toàn xã hội, trái pháp luật và gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tệ nạn xảy ra thường là do thói quen, nề nếp, lối sống của người dân, sự tò mò, sự lôi kéo của bạn bè, từ những hành động thiếu suy nghĩ. Những hậu quả do các tệ nạn xã hội gây ra là hết sức khôn lường và nghiên trọng, nó ảnh hưởng đến nhân cách, hạnh phúc gia đình, và kéo theo sự trì truệ đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt và đáng nói hơn cả trong các tệ nạn xã hội là nạn ma túy.

Ma túy là một chất gây nghiện cao có thể làm thay đổi nhận thức của một người hoặc khiến người sử dụng nó phải phụ thuộc vào thuốc và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dùng. Chúng ta cần bài trừ ma túy vì đây là một tệ nạn xấu mang tính toàn cầu. Một người nghiện ma túy có thể làm bất cứ điều gì kể cả thực hiện những tội ác, những việc làm trái pháp luật trái pháp luật để có được chất ma túy để thỏa mãn bản thân của họ.


Ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người sử dụng nó, đó chính là con đường dẫn đến căn bệnh hiểm nghèo là HIV/AIDS. Các tội phạm ma túy ngày càng gia tăng đã làm mất trật tự an toàn xã hội và là nền tản cho các tệ nạn xã hội khác diễn ra.

Vậy nên chúng ta hãy tránh xa với tệ nạn xã hội bằng mọi cách, luôn luôn sống lành mạnh, có ý thức, xây dựng nề nếp sống văn minh cho bản thân và gia đình đồng thời không nên xa lánh hoặc kì thị với những người người đã lỡ sa vào tệ nạn xã hội mà phải quan tâm động viên họ để giúp họ nhanh chóng hòa nhập lại với cuộc sống. Chúng ta cũng nên tham gia các hoạt động tuyên truyền phòng chống ma túy do trường hoặc địa phương tổ chức.


Vậy nên mới nói một đất nước văn minh tiến bộ là một đất nước không có tệ nạn xã hội. Đất nước, xã hội tốt thì nhân dân mới tốt, gia đình mới ấm no hạnh phúc. Mỗi cá nhân là một phần tử của xã hội nếu mỗi cá nhân tốt thì xã hội càng phát triển hơn nữa.

Để góp phần phát triển kinh tế đất nước và xã hội cũng như để bảo vệ bản thân khỏi các làn sóng tệ nạn xã hội, chúng ta cần tránh xa các tệ nạn xã hội, khi đã vất phải thì phải cố gắng hòa nhập lại với cuộc sống, xây dựng cho bản thân, gia đình và mọi người lối sống lành mạnh. Cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn ta tưởng nếu ta cố gắng nắm lấy nó và rời xa các tệ nạn xã hội. 'Hãy tránh xa các tệ nạn xã hội!' .

Bài viết của đọc giả



Nhấn nút " Like " hoặc " Share " bên dưới bài viết là ủng hộ nhóm chúng tôi cung cấp nhiều thông tin hơn.
Xem chi tiết…

PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI VĂN VĂN NGHỊ LUẬN HAY NHẤT

Mỗi bài văn nghị luận đều bao gồm 3 phần: mở bài, thân bài và kết bài. Sau đây là các công thức để học sinh có thể viết tốt ba phần cơ bản này.


1. Mở bài

Phần mở bài là chìa khóa cho toàn bộ bài văn. Phần mở bài gây ấn tượng đầu tiên cho người đọc về phong cách nghị luận, phong cách ngôn ngữ riêng của người viết. Phần mở bài gồm có 3 phần, theo 3 công thức: gợi - đưa - báo, trong đó: Gợi ý ra vấn đề cần làm.
Sau khi Gợi thì đưa ra vấn đề.
Cuối cùng là Báo- tức là phải thể hiện cho người viết biết mình sẽ làm gì.
Trong đó, khó nhất là phần gợi ý dẫn dắt vấn đề, có 3 cặp/6 lối để giải quyết như sau:
Cặp 1:Tương đồng/tương phản - đưa ra một vấn đề tương tự/hoặc trái ngược để liên tưởng đến vấn đề cần giải quyết, sau đó mới tạo móc nối để ĐƯA vấn đề ra, cách này thường dùng khi cần chứng minh, giải thích, bình luận về câu nói, tục ngữ, suy nghĩ.
Cặp 2:Xuất xứ/đại ý - dựa vào thông tin xuất xứ/ đại ý để dưa vấn đề ra, cách này thường dùng cho tác phẩm/tác giả nổi tiếng.\
Cặp 3:Diễn dịch/ quy nạp - cách này thì cũng khá rõ về ý nghĩa rồi.

2. Thân bài

Thân bài thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề chung. Để tìm ý cho phần thân bài thì có thể dùng các công thức sau đây để đặt câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều và dồi dào càng tốt, sau đó có thể sử dụng toàn bộ hoặc một phần ý tưởng để hình thành khung ý cho bài văn.
Đối với Giải thích:Gì - Nào - Sao - Do - Nguyên - Hậu
Trong đó:
Gì: Cái gì, là gì?
Nào: thế nào?
Sao: tại sao?
Do: do đâu?
Nguyên: nguyên nhân nào?
Hậu: hậu quả gì?
Hãy tưởng tượng vấn đề của mình vào khung câu hỏi trên, tìm cách giải đáp câu hỏi trên với vấn đề cần giải quyết thì bạn sẽ có một lô một lốc các ý tưởng.
Đối với Chứng minh: Mặt - Không - Giai - Thời - Lứa
Mặt: các mặt của vấn đề?
Không: không gian xảy ra vấn đề (thành thị, nông thôn, việt nam hay nước ngoài...).
Giai: giai đoạn (vd giai đoạn trước 1945, sau 1945..).
Thời: thời gian - nghĩa hẹp hơn so với giai đoạn (có thể là, mùa thu mùa đông, mùa mưa mùa nắng, buổi sáng buổi chiều..).
Lứa: lứa tuổi (thiếu niên hay người già, thanh niên hay thiếu nữ...).
Hình thành đoạn văn từ khung ý tưởng
Sau khi dựa vào công thức bạn hình thành được khung ý tưởng, điều tiếp theo là từ từng ý tưởng đó ta triển khai ra các đoạn văn hoàn chỉnh. Cách triển khai đoạn văn dùng công thức.
Nào - Sao - Cảm
Nào: thế nào?
Sao: tại sao?
Cảm: cảm xúc, cảm giác, cảm tưởng của bản thân?
Cứ như vậy bạn sẽ có nhiều đoạn văn, các đoạn văn này hợp lại là thân bài.

3. Kết bài

- Có công thức Tóm Rút - Phấn để thực hiện phần này:
Tóm: tóm tắt vấn đề
Rút: rút ra kết luận gì
Phấn: hướng phấn đấu, suy nghĩ riêng của bản thân
Như vậy trên đây là những kinh nghiệm cô đọng nhất về cách tìm ý cho bài văn dựa vào công thức, phương pháp này do thầy giáo dạy tôi năm cấp 2 hướng dẫn, ông đã áp dụng để giảng dạy học sinh từ những năm 60 của thế kỷ trước, tới nay vẫn còn hiệu quả.
A. NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
1. Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
a. Các dạng bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học và cách lập ý
- Nghị luận về văn học sử
Ví dụ:
Đề 1. Anh (chị) hãy phân tích và làm sáng tỏ mọi đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954: Chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đề 2. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quần thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước” (Dẫn theo Trần Văn Giàu tuyển tập, NXB Giáo dục, 2010). Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) với ý kiến trên (Ngữ văn 12, tập một tr.91).
Nghị luận về văn học sử thường là các ý kiến bàn bạc, nhận định, khái quát chung về văn học Việt Nam, về các giai đoạn văn học, về các tác giả văn học,… Để lập ý cho bài văn viết học sinh cần nắm được các yếu tố về hoàn cảnh lịch sử của giai đoạn văn học hoặc đặc điểm thời đại và hoàn cảnh sống của tác giả, lí giải được tại sao có những đặc điểm đó, nêu những biểu hiện của đặc điểm đó trong các tác phẩm, thấy đóng góp của vấn đề trong tiến trình phát triển của văn học
- Nghị luận về lí luận văn học

Ví dụ:
Đề 1. Bàn về truyện ngắn, có người viết: “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn, là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 1992, tr.253). Anh (chị) có đồng ý với ý kiến trên.



Đề 2. Bàn về đọc sách, nhất là đọc tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” (Dẫn theo Lâm Ngữ Đường, sống đẹp, Nguyễn Hiền Lê dịch, NXB Tao đàn, Sài Gòn, 1965)

Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? (Ngữ văn 12, tập một, tr.1965).
Nghị luận về lí luận văn học thường là các ý kiến bàn về những đặc trưng cơ bản của văn học, các thể loại tiêu biểu như truyện, thơ, kịch,… các vấn đề thuộc phạm vi lí luận văn học như tiếp nhận văn học, phong cách nghệ thuật,… Để lập ý cho bài viết, học sinh cần xác định rõ vấn đề nghị luận, bàn đến vấn đề gì, thuộc phạm vi nào? Tại sao lại nói như thế? Nội dung ấy được biểu hiện như thế nào qua tác phẩm văn học tiêu biểu?
- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.
Ví dụ

Đề 1. Trong truyện Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm: Chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, “mà biển thì rộng lắm […], rộng bằng cả nước ra và ra ngoài cả nước ta”

Anh (chỉ) có cho rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đã có một dòng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau: Chị em Chiến, Việt (Ngữ văn 12, tập hai, tr.68)


Đề 2. Trong đoạn trích Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm viết:

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoạ
Có thể nói hai câu thơ trên đã thể hiện tập trung những đặc sắc nổi bật về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích. Qua sự phân tích đoạn thơ, anh (chị) hãy làm sáng tỏ điều đó.
Nghị luận về vấn đề trong tác phẩm văn học: Thường là các ý kiến đánh giá, nhận xét về một khía cạnh nào đó của tác phẩm như những giá trị nội dung, những đặc sắc nghệ thuật, những quy luật, khám phá, chiêm nghiệm về đời sống toát lên từ tác phẩm, những nhận xét về các nhân vật,… Để lập ý, học sinh cần hiểu kĩ, hiểu sâu về tác phẩm, biết cách huy động kiến thức để làm sáng tỏ vấn đề. Cụ thể như: nêu xuất xứ của vấn đề (Xuất hiện ở phần nào của tác phẩm? Ai nói? Nói trong hoàn cảnh nào?,…), phân tích những biểu hiện cụ thể của vấn đề (Được biểu hiện như thế nào? Những dẫn chứng cụ thể để chứng minh,…). Từ đó đánh giá ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm văn học.

b. Cách lập dàn 

Tùy theo đối tượng và phạm vi các vấn đề được đưa ra bàn bạc mà có thể có các cách triển khai khác nhau. Tuy vậy, mục đích của bài học vẫn phải là hướng đến việc rèn luyện các kĩ năng tạo dựng một bài văn bản nghị luận nên nội dung có thể hết sức phong phú nhưng người viết vẫn phải tuân theo những thao tác và các bước cơ bản của văn nghị luận. Có thể khái quát mô hình chung để triển khai bài viết như sau: 

• Mở bài:

- Dẫn dắt vấn đề
- Nêu xuất xứ và trích dẫn ý kiến
- Giới hạn phạm vi tư liệu

• Thân bài:

- Giải thích, làm rõ vấn đề
+ Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong đề bài. Để tạo chất văn, gây hứng thú cho người viết, những đề văn thường có cách diễn đạt ấn tượng, làm lạ hóa những vấn đề quen thuộc. Nhiệm vụ của người làm bài là phải tường minh, cụ thể hóa những vấn đề ấy để từ đó triển khai bài viết
+ Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của vấn đề cần bàn luận. Thường trả lời các câu hỏi: Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ất có ý nghĩa như thế nào?
- Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau:
+ Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? Mức độ đúng sai như thế nào
+ Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy?
+ Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống? - Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học

• Kết bài

+ Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề
+ Rút ra những điều đáng ghi nhớ và tâm niệm cho bản thân từ vấn đề.
2. Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
a. Các dạng bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ và cách lập 
- Đối tượng của bài văn nghị luận về thơ rất đa dạng: Có thể là một đoạn thơ, bài thơ, một hình tượng, có thể là giá trị chung của đoạn thơ, bài thơ, có thể chỉ là một khía cạnh, một phương diện nội dung hoặc nghệ thuật.

Ví dụ: 
Đề 1. Hãy phân tích khổ thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dờn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Ngữ văn 12, tập một)

Đề 2. Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh.
Đề 3. Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân” trong đoạn thơ:

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chống yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chin con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiêng
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạn Long thành thắng cảnh
Người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…
(Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước, trích trường ca Mặt đường khát vọng)

Đề 4. Cảm nhận của em về vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng của hình ảnh người lính Tây Tiến.

- Các bước tìm ý, lập ý cho làm bài vưn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ:
+ Đọc kỹ bài thơ, đoạn thơ, đi vào tìm hiểu từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, câu từ… của bài thơ, đoạn thơ đó; rút ra những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật, làm cơ sở để nêu nhận xét đánh giá.
+ Nêu nhận xét, đánh giá về bài thơ, đoạn thơ.
+ Sử dụng luận cứ để thuyết phục người đọc về nhận xét của mình.

b. Cách lập dàn ý

Đảm bảo bố cục: 3 phần
- Mở bài: Giới thiệu khái quát đoạn thơ, bài thơ và vấn đề cần nghị luận.
- Thân bài: Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
- Kết bài: Đánh giá chung về đoạn thơ, bài thơ.

c. Một vài lưu ý

- Khi làm bài nghị luận về một đoạn thơ, cần đặt đoạn thơ trong chỉnh thể toàn bài.
- Để tìm được những nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật làm cơ sở, đề nêu nhận xét, đánh giá phải nắm vững đặc điểm của thơ: Thơ là tiếng nói của xúc cảm, tình cảm mãnh liệt, của sức liên tưởng, tưởng tượng phong phú; ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Đọc thơ và nhận xét đánh giá tác phẩm thơ cần nhận biết cái đẹp, cái độc đáo của ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu, tứ thơ, ý thơ,…

Ví dụ: Đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh là đến với vẻ đẹp độc đáo của hình tượng sóng qua ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu và kết cấu sóng đôi của hai hình thượng sóng và em. Từ đó, khám phá vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua cách thể hiện độc đáo của Xuân Quỳnh.

Tứ thơ độc đáo khiến bài thơ có sức ám ảnh đối với người đọc. Sức hấp dẫn của Đò Lèn (Nguyễn Duy) chính là ở cấu tứ bài thơ. Tái hiện hai không gian hư - thực với hình ảnh người bà lam lũ, tần tảo và tiên, Phật, thánh, thần trong dòng kỉ niệm của nhân vật trữ tình, nhà thơ đem đến cho người đọc những chiêm nghiệm thấm thía, sâu sắc về giá trị đích thực, thiêng liêng của cuộc sông. Sự vận động của tứ thơ thể hiện sự vận động của nhận thức trong dòng sông cuộc đời vô cùng, vô hạn.
Lời kể từ của một bài thơ cũng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tìm hiểu văn bản. Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên là tiếng hát của một hồn thơ được hồi sinh bởi Ánh sáng và phù sa của cuộc đời. Bài thơ thể hiện những dòng suy nghĩ sâu sắc của người nghệ sĩ về mối quan hệ với đất nước, nhân dân và chiêm nghiệm về cuộc sống và nghệ thuật. 

Ý tưởng sâu sắc của bài thơ đã được thể hiện ngay ở khổ thơ đề từ. Tìm hiểu khổ thơ đề từ là mở ra cánh cửa để đến với thế giới nghệ thuật của bài thơ. Cách sử dụng ngôn từ của nhà thơ cũng góp phần làm nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Tim hiểu Việt Bắc không thể bỏ qua cách sử dụng đại từ mình, ta rất thành công của Tố Hữu. Hai đại từ mình, ta song song đi suốt từ đầu đến cuối bài thơ được sử dụng khéo léo trong hình thức đối đáp, tâm tình; vừa góp phần tạo nên một hình thức thơ nhuần nhị, sâu lắng mang hồn dân gian, dân tộc, vừa thể hiện được một cách thấm thía nghĩa tình cách mạng chung thủy, sắt son.
- Khi nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm thơ cần quan tâm đến vai trò của chủ thể sáng tạo trong quá trình sáng tác (vấn đề tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ) và vai trò của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận; sức sống của bài thơ là ở trong trái tim, tâm hồn bạn đọc.

 Ví dụ: 
Để nhận xét, đánh giá bài thơ Tiếng hát con tàu trước hết phải hiểu được hành trình tư tưởng của Chế Lan Viên (“từ chân trời của một người tới chân trời tất cả, từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”) và nám được phong cách nghệ thuật của ông (chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và thế giới hình ảnh phong phú được sáng tạo bởi ngòi bút thông minh tài hoa).
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu viết về một sự kiện chính trị có tính thời sự nhưng chạm tới phần sâu thẳm trong tâm linh mỗi con người bởi thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc; giọng thơ tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành.



Nguồn:  NGUYỄN ĐỨC HƯNG
Xem chi tiết…

Những Quy Tắc Cần Nhớ Khi Bạn Gặp Khó Khăn

KHI GẶP CHUYỆN KHÓ KHĂN, HÃY NHỚ NHỮNG ĐIỀU SAU ĐÂY !

Sau đây là 5 điều mà bạn hãy nhớ đến khi gặp khó khăn, thách thức hay đau khổ trong cuộc sống, khi bạn cần động lực để tìm lại niềm tin vào cuộc đời:


1. CÓ ĐAU THƯƠNG THÌ MỚI CÓ TRƯỞNG THÀNH
Cuộc sống thi thoảng sẽ tự khép những cánh cửa mỗi khi bạn cần phải phấn đấu. Đó là điều tốt vì chúng ta sẽ chẳng làm gì nếu như hoàn cảnh không ép buộc ta phải như vậy. Mỗi khi gặp những điều khó khăn, bạn hãy nhớ là chẳng có nỗi đau nào đến mà lại không có mục đích. Bạn hãy cố gắng vượt qua những thứ khiến bạn đau khổ và đừng quên những bài học nó đem đến cho bạn.

Bạn nên nhớ rằng có hai loại nỗi đau: một loại khiến bạn đau khổ và loại còn lại thì khiến bạn thay đổi. Trong vòng quay cuộc sống, thay vì kháng cự lại nỗi đau, bạn hãy để chúng giúp bạn trưởng thành.

2. MỌI THỨ ĐẾN VÀ ĐI ĐỀU NHẤT THỜI
Mưa rồi cũng sẽ hết, vết thương rồi cũng sẽ lành. Luôn có những ánh sáng phía cuối đường hầm. Nếu như bạn vẫn còn hay quên hay chót tin rằng đêm đen sẽ không bao giờ trôi qua thì hãy nhắc nhở điều này với bản thân mỗi sáng. Đêm đen rồi cũng sẽ tan thôi, bởi chẳng có gì là mãi mãi.

Đừng vì cuộc sống khó khăn trước mắt mà bạn không cất tiếng cười. Đừng vì những thứ làm bạn phiền muộn, mà bạn không nở nụ cười. Mọi phút giây, cuộc sống đều đem lại cho bạn một sự khởi đầu và một sự kết thúc. Bạn sẽ luôn có cơ hội thứ 2, chỉ cần nhớ rằng, lần này, bạn phải nắm lấy nó và tận dụng nó.

3. LO LẮNG VÀ THAN VÃN CHẲNG THAY ĐỔI ĐƯỢC GÌ
Những ai than vãn nhiều thường chẳng làm được bao nhiêu. Mọi chuyện sẽ không kết thúc nếu như bạn lạc đường, nhưng nó sẽ kết thúc nếu như bạn chỉ than vãn mà không vận động. Hãy luôn cố gắng để đạt được điều mà bạn tin tưởng. Đừng để những bóng đen của quá khứ nhuốm màu những bậc thang của tương lai. Dành thời gian của hôm nay để than vãn về chuyện của ngày hôm qua sẽ không làm cho ngày mai của bạn trở nên tốt đẹp. Thay vào đó, hãy hành động.

Bạn chỉ cần nhớ rằng hạnh phúc thực sự bắt đầu khi bạn dừng than vãn về vấn đề của mình và cảm thấy biết ơn vì tất cả những tai họa không xảy đến với bạn.

4. MỌI NỖ LỰC DÙ NHỎ NHẤT CŨNG LÀ MỘT BƯỚC TIẾN LÊN
Trong cuộc sống, sự kiên nhẫn không chỉ đơn giản là chờ đợi, hơn cả, nó là khả năng duy trì một thái độ sống tích cực trong khi bạn cố gắng hết mình để hiện thực hóa một ước mơ đáng giá. Vì vậy, nếu như bạn muốn cố gắng, hãy cho bản thân thời gian và tìm mọi cách để thực hiện. Nếu không làm như vậy, bạn sẽ chẳng bao giờ có sự khởi đầu.

Và nếu bạn muốn thành công, bạn phải bắt tay vào thực hiện, dù cho bạn có thể sẽ gặp phải thất bại, từ chối hay những điều khác. Cứ mỗi bước chân qua, bạn sẽ lại cảm thấy mọi điều trở nên tốt đẹp hơn bất cứ thứ gì mà bạn có thể tưởng tượng được. Tôi cam đoan với các bạn rằng sẽ chẳng có điều gì hạnh phúc hơn thế, chẳng có điều gì tuyệt vời hơn là nhận ra được mình sinh ra là ĐỂ SỐNG.

5. ĐIỀU TỐT NHẤT BẠN CÓ THỂ LÀM ĐÓ LÀ TIẾP TỤC BƯỚC ĐI
Bạn đừng sợ phải bắt đầu lại từ đầu – thử lại lần nữa – yêu lại từ đầu – sống và lại tiếp tục mơ ước. Đừng để những bài học đau đớn kéo chìm trái tim bạn. Bạn sẽ học được những bài học đắt giá nhất của cuộc sống ở những thời điểm hay lỗi lầm tệ hại nhất. Mỗi khi bạn muốn bỏ cuộc, hãy nhớ rằng, mọi việc đôi khi diễn biến cực kì tệ hại trước khi chúng trở nên tử tế.

Vâng, cuộc sống càng khó khăn thì bạn càng phải cứng cỏi hơn nữa. Hãy tìm ra sức mạnh để nở nụ cười mỗi ngày. Bạn không nên quá chú trọng vào những thứ bạn không thể thay đổi. Hãy sống đơn giản, hãy yêu với lòng khoan dung, hãy nói thật lòng mình, hãy làm việc chăm chỉ đó là bí quyết sống hạnh phúc. Và cho dù bạn sẽ có lúc gặp thất bại, thì hãy cứ cố gắng, hãy cứ tiếp tục trưởng thành.

- ST -
Xem chi tiết…

Nghị luận về một tác phẩm- một đoạn trích văn xuôi


#. Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi


a. Các dạng bài nghị luận về đoạn trích,tác phẩm văn xuôi và cách lập dàn ý Đối tượng nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi rất đa dạng. Có thể là giá trị nội dung và nghệ thuật nói chung, có thể chỉ là một phương diện, thậm chí một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật của một tác phẩm, của các tác phẩm, đoạn trích khác nhau. - Nghị luận về giá trị nội dung tác phẩm, đoạn trích

Ví dụ:
Đề 1. Giá trị nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài).
Đề 2. Bức tranh ngày đói và ý nghĩa tố cáo trong Vợ nhặt (Kim Lân).
Nghị luận về giá trị nội dung thường xoay quanh hai giá trị cơ bản là giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực. Học sinh cần bám vào các biểu hiện của giá trị nhân đạo (trân trọng đề cao, ngợi ca, bênh vực phẩm chất tốt đẹp, cảm thông, chia sẻ với nỗi đau khổ bất hạnh của con người, lên án tố cáo thế lực áp bức trong xã hội, …) và giá trị hiện thực (tính chân thật, sâu sắc, mức độ điển hình trong miêu tả và phản ánh tực tại cuộc sống,…) để lập ý cho bài viết.


- Nghị luận về giá trị nghệ thuật

Ví dụ:
Đề 1. Phân tích tình huống truyện độc đáo trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và Vợ nhặt để làm rõ vai trò của việc xây dựng tình huống trong truyện ngắn.
Đề 2. Nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn “Vi hành” (Nguyễn Ái Quốc).

Nghị luận về giá trị nghệ thuật thường bàn về các đặc điểm thể loại văn xuôi và giá trị chúng như: cách xây dựng cốt truyện, tình huống, nhân vật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ kể chuyện, giọng điệu trần thuật, chi tiết nghệ thuật,…

- Nghị luận về một nhân vật

Ví dụ:
Đề 1. Vai trò của người “vợ nhặt” trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Kim Lân.

Đề 2. Hình ảnh bà Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội (Nguyễn Khải). Nghị luận về một nhân vật có nội dung xoay quanh các biểu hiện về phẩm chất, lối sống, tư tưởng của nhân vật, trên cơ sở đó có những đánh giá về vai trò ý nghĩa của nhân vật trong việc thể hiện chủ đề về tác phẩm, về thành công trong việc xây dựng nhân vật của tác giả.

- Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật, một phương diện hay một khía cạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau.
Ví dụ:
Đề 1.
Tính thống nhất và sự vận động trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua hai tác phẩm Chữ người tử tù và Người lái đò Sông Đà.
Đề 2.
So sánh vẻ đẹp hai dòng sông qua hai tác phẩm Người lái đò Sông Đà và Ai đă đặt tên cho dòng sông? Để thấy nét riêng trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường.

- Nghị luận về một giá trị nội dung, nghệ thuật, một phương diện hay một khía cạnh của nhiều tác phẩm, đoạn trích khác nhau yêu cầu chỉ ra nét chung và nét riêng trên cơ sở một số tiêu chí về nội dung và nghệ thuật cho hợp lí.

b. Cách lập dàn ý

Đảm bảo bố cục 3 phần: 
- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và vấn đề cần nghị luận. - Thân bài: Mỗi ý kiến nhận xét về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của đoạn trích hay tác phẩm triển khai thành một luận điểm. Trong từng luận điểm sử dụng các luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) làm sáng tỏ.
- Kết bài: Đánh giá về ý nghĩa, vị trí, vai trò của tác phẩm trong sự nghiệp tác giả, trong giai đoạn văn học, đối với thời đại; vị trí, ý nghĩa của đoạn trich trong toàn tác phẩm, hoặc của vấn đề nghị luận.

c. Lưu ý

- Các bước tiến hành làm bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi: + Đọc kĩ tác phẩm, đoạn trích, nắm chắc nội dung, cốt truyện, các nhân vật, các chi tiết tiêu biểu thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm.
+ Nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm, đoạn trích theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
+ Triển khai các luận cứ phù hợp.
+ Lựa chọn các thao tác lập luận: Ngoài các thao tác thường gặp như giải thích, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận, … trong bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi rất cần kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự (thuật kể tóm tắt nội dung, cốt truyện, nhân vật, chi tiết,…), miêu tả, thuyết minh.
- Khi làm kiểu bài này, học sinh hay rơi vào thuật, kể lại chi tiết mà thiếu sự phân tích, đánh giá cụ thể trên cơ sở khoa học - hiểu văn bản. Để tránh đưa ra những ý kiến chung chung, người viết cần nắm chắc đặc trưng của văn bản truyện. Đồng thời phải biết kể lại tình huống truyện, nhớ chính xác những từ ngữ quan trọng miêu tả đặc điểm nhân vật, thuật lại những chi tiết nghệ thuật đắt giá, thuộc được những câu văn hay, đặc sắc,… Chỉ như thế, người viết mới có thể nêu ra nhận định cụ thể, thuyết phục. Đây cũng là điểm riêng làm nên độ khó nhất định của kiểu bài nghị luận một tác phẩm hay đoạn trích văn xuôi so với nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
- Nếu đề bài trích dẫn cả đoạn văn ngắn cần phân tích, học sinh phải biết vận dụng hiểu biết tác phẩm, tác giả để đọc ra được nội dung của đoạn thông qua cách kể chuyện, cách sử dụng chi tiết, cách xây dựng nhân vật, các biện pháp tu từ,… Nhất thiết phải đặt đoạn văn trong chỉnh thể tác phẩm mới có những đánh giá xác đáng về giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.


Nguồn: NGUYỄN ĐỨC HƯNG
Xem chi tiết…

CHI TIẾT LÀM BÀI VĂN -NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


I. Các dạng bài văn nghị luận xã hội và thao tác làm một bào văn nghị luận xã hội
1. Các dạng bài văn nghị luận xã hội
- NLXH thường là những vấn đề rất rộng của đời sống, học sinh lại thiếu hiểu biết xã hội, nên không có vốn để viết.
- NLXH hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên chúng thường rất trừu tượng, học sinh sẽ gặp khó khăn khi phải hiểu, phải lý giải được ý nghĩa của nó, ngay từ bước đầu đã vướng phải những vấn đề "khó nuốt" như vậy huống hồ phải triển khai thành bài văn với hệ thống ý chặt chẽ, kín kẽ, thuyết phục...
- NLXH cần ở học sinh sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề, và từ nhận thức đi đến trình bày cái hiểu là cả 1 quá trình, để áp dụng và diễn đạt những cái mình hiểu đâu phải chuyện dễ dàng gì với nhiều học sinh. 
Chính vì thế nhiều em đã dở khóc dở cười với văn NLXH, trong khi áp lực của thi cử và các bài kiểm tra luôn đè nặng lên các em. Thực ra, ở Trung Quốc và nhiều nước phương Tây đã có những đề mở này từ rất lâu và áp dụng trong kỳ thi tốt nghiệp và ĐH. Nên việc các em phải tập làm quen với văn nghị luận XH là 1 yêu cầu cần thiết, và các em phải tập với hình thức tư duy của dạng đề này.
* Khi bắt gặp 1 đề NLXH, các em phải tự đặt ra cho mình 2 câu hỏi và phải tự trả lời 2 câu hỏi ấy:
1/ Đề yêu cầu nội dung nghị luận về chủ đề gì?
2/ Thao tác nghị luận chính dùng để nghị luận trong quá trình viết để đáp ứng yêu cầu của đề là gì?
* Các chủ đề quen thuộc của văn nghị luận XH:
- Đạo dức - nhân sinh.
- Tư tưởng văn hoá.
- Lịch sử.
- Kinh tế.
- Chính trị.
- Địa lý, môi trường.
* Các thao tác chính hay dùng: Chứng minh, Giải thích, Bình luận.
=> Đề ra thường vừa yêu cầu về kiến thức (nằm ở các chủ đề khác nhau), vừa yêu cầu về kĩ năng (nằm ở các thao tác yêu cầu cần thực hiện). Nên các em vừa phải chịu học để bổ sung kiến thức cho phong phú, vừa phải rèn luyện các kĩ năng để thực hiện thao tác nghị luận cho đúng phương pháp.
- Về mặt kiến thức, buộc các em phải tự trang bị, vì không có 1 loại biện pháp vạn năng giúp nhét kiến thức vào đầu các em, mà đó phải là 1 quá trình tích luỹ dần dần, đồng thời phải có ý thức học kiến thức trên nhà trường 1 cách đầy đủ. Ở đây, chúng ta chỉ có thể bàn về yêu cầu phương pháp.
Đề bài thường yêu cầu các em phải làm theo 1 thao tác chủ yếu: giải thích, chứng minh hay bình luận. 
2. Các thao tác của một bài văn NLXH
2.1. Giải thích:
+ Yêu cầu đặt ra: 
Đi sâu vào những phát ngôn rất súc tích để tìm hiểu và lý giải nội dung ý nghĩa bên trong. Tức là ta phải làm sáng tỏ, giảng giải, bóc tách vấn đề cho người đọc hiểu được thấu đáo cái đang được đề cập khi chúng còn đang mơ hồ.
+ Công việc cụ thể: 
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta phải đi vào lý giải từ ngữ, điển tích, khái niệm, đi vào nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hẹp, nghĩa mở rộng, đi vào những cách nói tế nhị bóng bẩy để hiểu được đến nơi đến chốn điều người ta muốn và cái lẽ khiến người ta nói như vậy. Trong thao tác giải thích, ta vừa dùng lý lẽ để phân tích, lý giải là chủ yếu; vừa dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, xác lập 1 cách hiểu đúng đắn, sâu sắc có tính biện chứng nhằm chống lại cách hiểu sai, hiểu không đầy đủ, không hết ý.
Bước kết thúc của thao tác giải thích là rút ra điều chúng ta cần vận dụng khi đã tìm hiểu được chân lý. Phương hướng để vận dụng những chân lý này vào cuộc sống hàng ngày, tuỳ theo cho cá thể hay cho cộng đồng mà có hướng vận dụng phù hợp, và mỗi chúng ta phải như thế nào?
=> Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước:
- Làm sáng tỏ điều mà người ta muốn nói.(giải thích)
- Trả lời vì sao người ta đã nói như vậy?(tại sao?)
- Từ chân lý được nói lên, rút ra bài học gì trong thực tiễn?(để làm gì)
2.2. Chứng minh: 
+ Yêu cầu đặt ra:
Làm sáng tỏ chân lý bằng các dẫn chứng và lý lẽ. Khi ta đã chấp nhận cái chân lý thể hiện trong 1 phát ngôn nào đó, nhiệm vụ là ta sẽ phải thuyết phục người khác cũng chấp nhận như mình = những dẫn chứng rút ra từ thực tế cuộc sống xưa và nay, từ lịc sử, từ văn học (nếu đề yêu cầu) và kèm theo dẫn chứng là những lý lẽ dẫn dắt, phân tích tạo ra lập luận vững chắc, mang đến niềm tin cho người đọc.
+ Công việc cụ thể:
Bước đầu tiên là phải tìm hiểu điều cần phải chứng minh , không những chỉ bản thân mình hiểu, mà còn phải làm cho người khác thống nhất, đồng tình với mình cách hiểu đúng nhất.
Tiếp theo là việc lựa chọn dẫn chứng. Từ thực tế cuộc sống rộng lớn, tư liệu lịch sử rất phong phú, ta phải tìm & lựa chọn từ trong đó những dẫn chứng xác đáng nhất, tiêu biểu, toàn diện nhất (nên chỉ cần vài ba cái để làm sáng tỏ điều cần CM). Dẫn chứng phải thật sát với điều đang muốn làm sáng tỏ và kèm theo dẫn chứng phải có lý lẽ phân tích - chỉ ra những nét, những điểm ta cần làm nổi bật trong các dẫn chứng kia. Để dẫn chứng và lý lẽ có sức thuyết phục cao, ta phải sắp xếp chúng -> 1 hệ thống mạc lạc và chặt chẽ: theo trình tự thời gian, không gian, từ xưa đến nay, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong hoặc ngược lại...miễn sao hợp logic.
Bước kết thúc vẫn là bước vận dụng, đặt vấn đề vào thực tiễn cuộc sống hôm nay để đề xuất phương hướng nỗ lực. Chân lý chỉ giá trị khi soi rọi cho ta sống, làm việc tốt hơn. Ta cần tránh công thức và rút ra kết luận cho thoả đáng, thích hợp với từng người, hoàn cảnh, sự việc.
=> Từ những điều nói trên, ta rút ra 1 sơ đồ tổng quát theo 3 bước:
- Làm rõ điều cần chứng minh trong luận đề được nêu lên.
- Lần lượt đưa ra các dẫn chứng và lý lẽ để làm sáng tỏ điều cần chứng minh.
- Rút ra kết luận về phương hướng nỗ lực.
2.3. Bình luận:
Đây là thao tác có tính tổng hợp vì nó bao hàm cả công việc giải thích lẫn chứng minh. Nên những yêu cầu của giải thích và chứng minh cũng là yêu cầu đối với văn bình luận, nhưng giải thích và chứng minh sẽ được viết cô đọng, ngắn gọn hơn so với chỉ 1 thao tác chứng minh hoặc giải thích để tập trung cho phần việc quan trọng nhất là bình luận - phần mở rộng vấn đề. 
Trước khi bình luận, ta thường phải bày tỏ thái độ, để khách quan và tránh phiến diện, ta phải xem xét kĩ luận đề để từ đó có thái độ đúng đắn, có 3 khả năng: - Hoàn toàn nhất trí.
- Chỉ nhất trí 1 phần. (có giới hạn, có điều kiện)
- Không chấp nhận. (bác bỏ)
Sau đó, ta bình luận - mở rộng lời bàn để vấn đề được nhìn nhận sâu hơn, toàn diện hơn, triệt để hơn.
Cuối cùng, ta lại chỉ ra phương hướng vận dụng để đưa lý luận vào áp dụng thực tế cuộc sống.
=> Bố cục của một bài văn bình luận gồm:
- Mở bài: 
Dẫn dắt, giới thiệu luận đề.
- Thân bài:
+ Xác định ý nghĩa cơ bản của luận đề. (ý nghĩa)
+ Bày tỏ thái độ của chúng ta trên những nét bao quát nhất. (đánh giá)
+ Trình bày nội dung cơ bản: bình luận. (mở rộng, bổ sung lời bàn)
- Kết bài:
Kết thúc luận đề (rút ra kết luận thực tiễn).
---> Khi làm bài bình luận, chúng ta phải rất linh hoạt, tránh cái nhìn phiến diện 1 chiều, và không bị sa bẫy vào những câu nói nghe có vẻ tưởng chừng đúng nhưng lại còn tồn tại những cách hiểu lệch lạc, chưa đúng đắn. Bằng vốn tri thức, vốn sống của bản thân ta tìm ra cách hiểu đúng đắn nhất, rồi từ đó bằng lập luận, lý lẽ và dẫn chứng, ta lôi cuốn mọi người đồng ý, đồng tình với cách đánh giá, lời bàn của ta 1 cách bị chinh phục.






Xem chi tiết…

Nét đặc sắc của nghệ thuật đồng hiện trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

1. Khái niệm “nghệ thuật đồng hiện”:

-Đồng hiện về phương diện từ nguyên là cùng một lúc thể hiện một hiện tượng sự vật nào đó.
-Trong truyện ngắn, nghệ thuật đồng hiện thuộc kết cấu tác phẩm, một yếu tố thuộc về hình thức. Kết cấu tác phẩm chính là cách tổ chức liên kết các yếu tố nội dung lại để tác phẩm đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
-Nghệ thuật đồng hiện là một trong những phương thức kết cấu tác phẩm. Theo phương thức kết cấu đồng hiện, các sự kiện, các tình tiết, các nhân vật cùng một lúc thông qua thủ pháp nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là nghệ thuật trần thuật sẽ được thể hiện trong một thời điểm (hay nhiều thời điểm), trong một không gian(hay nhiều không gian) nhất định nào đó.

2. Phân tích và chứng minh qua tác phẩm:

a/ Các sự kiện đồng hiện trong một thời điểm:
-Tái hiện trận đánh diễn ra ở trên ruộng đồng Nam Bộ giữa đơn vị của VIệt và một đoàn xe tăng địch. Chiến trường vẫn nguyên vẹn với những xác xe tăng, xác lính Mĩ; không gian mịt mù khói của xe bọc thép cháy, mùi máu tanh nồng của những xác lính Mĩ. Thời gian tái hiện mọi sự kiện ấy là những lần tỉnh mê đứt nối của Việt.
-Khi được anh Tánh cùng đồng đội đưa về quân y viện, trong hồi ức của Việt cùng đan xen hai mảnh quá khứ và hiện tại. Quá khứ là những vui buồn, hiện tại là làm sao viết thư cho chị mà lại khoe chiến công ít ỏi, chỉ diệt được một xe đầy Mĩ và mấy thằng Mị lẻ.

b/Các nhân vật được đồng hiện:
*Nhân vật Việt:

-Là một chiến sĩ trẻ nhưng cuộc sống chiến đấu đã tái hiện trong mọi không gian, thời gian ở gia đình và ở chiến trường.
-Thủ pháp nghệ thuật đồng hiện đã được khai thác triệt để khắc họa nhân vật Việt bằng liên tưởng, tưởng tượng, bắc cầu từ sự kiện này sang sự kiện khác.
-Từ chi tiết anh em đồng đội gọi Việt là “cậu Tư”, Việt nhớ đến chị Chiến, đến anh Tánh và câu chuyện ai cũng muốn làm anh rễ của Việt, một cách tếu táo đùa vui rất lính. Việt viết thư cho chị, nhớ lần chị bị trúng bom ngất đi và nhớ lại trận đánh đầu đời của Việt.
-Trong trận đánh có lúc Việt ngất đi và tưởng như nghe tiếng ếch đâu đây. Tiếng ếch gợi những ngày thơ ấu. nhớ những sinh hoạt làng quê trong những hôm đi bắt ếch. Và nhớ hình ảnh chú Năm với những câu hò cùng cuốn sổ gia đình viết về cả một truyền thống từ thời ông cha …. Tất cả ùa về như chặt kín tâm trí Việt sao mà thân thương thế.
*Các nhân vật như chị Chiến, chú Năm, ba má Việt, anh Tánh cũng lần lượt hiện về và đồng hiện theo dòng độc thoại nội tâm của Việt.

3. Đánh giá:

-Cái tài của Nguyễn Thi là đã kết nối những sự kiện tưởng như xa nhau, hoặc trôi thoe dòng quá khứ nhờ hồi tưởng mà tất cả hiện lên sống động , cụ thể như con người ngoài đời.
-Hai mảng sự kiện, những đoạn đời trong hiện tại và quá khứ của nhân vật đan chéo, gài lồng chặt chẽ vào nhau, bổ sung cho nhau làm cho tính cách các nhân vật được khắc hạo rõ nét, chủ đề của thiên truyện nổi bật hơn.
-Lối kết cấu này khiến tác giả phải đi tìm, săn lùng đến tận cùng diễn biến tâm lí nhân vật và diễn đạt nó bằng lối kể chuyện, hành văn, sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật.


Hội những người học khối D1
Nguồn: #JiVy
Xem chi tiết…